SỰ TÍCH DỐC ĐẦU LÂU

SỰ TÍCH DỐC ĐẦU LÂU

                       Đại tá Phạm Văn Quyết

Ai đã từng đi qua trung tâm huyện Đắk Hà nằm trên đường 14 (nơi đây trước gọi là Võ Định) theo đường 14 đi về thị xã Kon Tum khoảng hơn l km là gặp đỉnh dốc Đầu Lâu. Bên phải có kỳ đài do nhân dân tỉnh Kon Tum xây dựng để kỷ niệm những chiến công oanh liệt của quân dân tỉnh Kon Tum, gần đó là điểm cao 601A bên trái đường 14 là điểm cao 601B.
Nhưng dốc Đầu Lâu có từ bao giờ, sự tích ra sao thì không nhiều người biết rõ. Người dân họ bảo: Chúng tôi nghe nói trên đường 14 đỉnh của dốc này có đầu lâu người lăn lóc thì gọi là dốc Đầu Lâu. Nơi đây gọi là dốc nhưng không dốc lắm vì dốc xuôi theo đường 14 từ bình độ 601 xuôi xuống dài khoảng lkm về hướng thị xã Kon Tum.
Dốc Đầu Lâu, phía bên phải cách khoảng 200 mét là cao điểm 601. Nơi đây địch còn gọi là căn cứ “Lam Sơn”. Nó là một vị trí rất quan trọng, là cánh cửa thép để bảo vệ thị xã Kon Tum.
Năm 1972 phối hợp với chiến trường toàn miền, quân và dân tỉnh Kon Tum đã chiến đấu và chiến thắng oanh liệt giải phóng một vùng rộng lớn phía tây và tây bắc tỉnh Kon Tum, tạo thế và lực mới trên chiến trường. Trước sức tấn công mạnh như vũ bão của quân và dân ta địch không đủ khả năng tái chiếm lại được, buộc chúng phải co cụm lập thành phòng tuyến, xây dựng căn cứ vững chắc có hàng rào kẽm gai, có hỏa lực chi viện kịp thời hòng ngăn chặn đà tiến công của quân và dân ta.
Căn cứ 601 của địch là một căn cứ được chúng bố phòng, xây dựng khá vững chắc, có công sự, hàng rào dây thép gai và hệ thống mìn các loại dày đặc, để bảo vệ và chi viện cho căn cứ phía bên còn có cụm chốt 601B. Phía đông có căn cứ 751. Căn cứ Bãi ủi, Đồi Tròn, phía nam có căn cứ Ngọc Bay cao điểm 674 và căn cứ Kon Trang Năng Loi tạo thành một hệ thống phòng tuyến hoàn chỉnh và khá vững chắc hòng ngăn chặn ta tiến công.
Quyết không cho địch thực hiện được ý đồ trên . Đầu tháng 12 năm 1972 lệnh của trên phải tiêu diệt và chiếm lĩnh bằng được cao điểm 601A của địch. Nhằm mở toang cánh cửa phía tây tỉnh Kon Tum, áp đảo quân địch, tạo thế tấn công khi thời cơ tới.
Trung đoàn 66 được Bộ Tư lệnh Sư đoàn 10 giao cho thực hiện trọng trách này. Tiểu đoàn 8 đảm nhiệm mở cửa từ hướng đông đánh vào. Tiểu đoàn 9 là hướng đột kích chủ yếu từ hướng bắc theo đường 14 đánh lên dưới sự chi viện đắc lực của hỏa lực pháo binh, cối, ĐKZ của cấp trên. Những ngày này mọi công tác chuẩn bị đánh địch được thực hiện khẩn trương, cả trung đoàn ngày không nghỉ, đêm đêm không ngủ, người nào việc ấy theo chức năng từng cá nhân, đơn vị, người tải đạn, gùi hàng, người khiêng vác pháo 105 ly, ĐKZ 106,7 ly, cối 120 ly cũng được tháo rời để khiêng vác đưa vào trận địa trên điểm cao cách căn cứ 601A có 900 mét, thật là một việc làm táo bạo, một sáng kiến mới của chiến trường. Mà chỉ có lính Sư 10 mới làm như vậy.
Mọi công tác chuẩn bị khẩn trương của trên dưới đã hoàn tất. Lệnh của trên phát ra, ngày nổ súng tiêu diệt căn cứ 601A đã đến. Tôi nhớ ngày đó là ngày 12-13 tháng 12 năm 1972. Đêm ngày 12 chúng tôi được lệnh bí mật mang vác đầy đủ các trang thiết bị vượt đường 14 từ phía bắc sang bí mật ém quân theo dọc sườn núi 601A và cách cửa mở khoảng 200 mét. Sáng ra máy bay trinh sát địch lượn lờ nhòm ngó, có thể địch đã phát hiện hoặc nghi ngờ nên pháo cối của chúng bắn ra tới tấp xung quanh căn cứ, pháo binh của địch từ các căn cứ xung quanh cũng bắn tới làm một số anh em ta thương vong. Nhưng trên cho biết, đây chỉ là địch bắn vu vơ hoảng loạn, chúng chưa phát hiện được ý đồ của ta, nên chúng tôi yên tâm phần nào và động viên anh em giữ vững tinh thần chiến đấu.
Đến 10 giờ 30 lệnh đơn vị lên phá rào chiếm cửa mỏ bắt đầu. Dưới sự chế áp của hỏa lực cấp trên chi viện cửa mở , anh Tạ Ngọc Oanh đại đội trưởng cùng đồng chí Lăng trung đội trưởng 2cùng lúc điểm hỏa hai giá mìn định hướng để phá rào. Tôi (Phạm Văn Quyết) chính trị viên đại đội dẫn đội mở cửa lên dùng bộc phá ống phá nốt các hàng rào còn lại. Nhưng do anh em cơ động chạy vào theo sườn đồi rất khó đi, lại mang vác nặng, bộc phá, súng trang bị tổng số mỗi đồng chí mang hơn 30kg trên người, đến cửa mở, anh em mệt phờ, có đồng chí ngã quỵ, không lên được. Nếu lúc này chậm trễ sẽ mất thời cơ, chỉ cần hai ba tên địch trên giao thông hào, lô cốt phát hiện ta đang từ dưới chân dốc lên thì sự việc nguy hiểm diễn ra không thể lường hết được.
Bài học này đã xảy ra tại cửa mở Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 8 tại cao điểm Ngọc Bờ Biêng (lính gọi vui là Nhọc Mà Khiêng) và cửa mở Tiểu đoàn 8 đánh Plei Kần đợt một 1972 hoặc cửa mở Đại đội 11 Tiểu đoàn 9 đánh Đắk Xiêng... Không thể để chậm chễ, chần chừ, ý nghĩ thoáng trong đầu, tôi nói chiến sĩ bộc phá: "Đưa bộc phá của cậu đây". Nói rồi tôi ôm bộc phá lao lên phá hàng rào, lần lượt 6 quả liền phá nốt 4 hàng rào dây thép gai của địch, cùng anh em xông lên chiếm lô cốt đầu cầu. Bọn địch hoang mang sợ sệt vì tiếng bộc phá, tiếng mìn nổ. Khi chiếm lĩnh được lô cốt đầu cầu vẫn còn năm sáu tên địch đang nằm nép dưới giao thông hào giơ tay xin hàng.
Phát huy thắng lợi, tôi tiếp tục chỉ huy đại đội đánh theo các hướng đã định. Lúc này pháo lớn của ta tạm dừng, địch lợi dụng giao thông hào, công sự vững chắc chống trả ta quyết liệt. Nhưng được Đại đội 9 và Đại đội 10 cùng hỏa lực của tiểu đoàn đã cơ động đến chi viện kịp thời. Mũi chỉ huy của anh Hoàng đại đội phó chỉ huy anh em đánh vòng về phía đông hướng cửa mở của Tiểu đoàn 8, tạo điều kiện Tiểu đoàn 8 phá nốt hàng rào cùng xông lên đánh địch.
Cuộc chiến đấu trong căn cứ diễn ra vô cùng ác liệt, hai bên tranh chấp nhau từng lô cốt, từng đoạn hào.
Biết khả năng căn cứ bị tiêu diệt, địch dùng cả pháo lớn bắn trùm lên trận địa, ta địch đều thương vong. Đã hơn một giờ quần nhau với địch cuối cùng mũi anh Hoàng đại đội phó cùng anh Thể vừa chỉ huy anh em đánh địch chi viện vừa xông lên cùng một lúc. Hai anh điểm hỏa hai quả bộc phá ống loại 6kg tông thẳng vào trong hầm chỉ huy của địch, toàn bộ quân địch trong hầm ngầm bị tiêu diệt. Nhưng cũng là lúc hai anh ngã xuống ngay cạnh hầm chỉ huy địch vừa bị các anh tiêu diệt. Địch bị hoảng loạn, các mũi các hướng xông lên hoàn thành các mục tiêu, địch lần lượt bị tiêu diệt, ta làm chủ hoàn toàn trận địa bắt tù binh thu vũ khí.
Với một trận đánh địch trong công sự vững chắc hơn 2 giờ đồng hồ, ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa, tiêu diệt toàn bộ một tiểu đoàn địch bắt hơn 70 tù binh, thu toàn bộ vũ khí, ta thương vong tổn thất thấp so với các trận chiến đấu khác. Đó là một trận đánh thắng với hiệu suất cao.
Phát huy thắng lợi chỉ bốn năm ngày sau Tiểu đoàn 9 có hỏa lực cấp trên chi viện đã đánh chiếm làm chủ hoàn toàn căn cứ Kon Trang Lăng Loi diệt 1 tiểu đoàn địch, bắt toàn bộ tù binh thu toàn bộ vũ khí trong đó có 5 khẩu pháo 155 ly.
Cuối tháng 12 năm 1972, Hiệp định Pa-ri được ký kết thời điểm có hiệu lực đã đến gần trước sự thất bại nặng nề. Địch ngày đêm tung quân, tung lực lượng dùng bom pháo oanh tạc dữ dội hòng giành lại điểm cao then chốt 601A và các khu vực khác đã mất, trong lúc này Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 66 đảm nhiệm giữ cao điểm 601 này. Bao lần chúng dùng lực lượng máy bay, quân số đông với hỏa lực mạnh đánh chiếm lại nhưng đều bị các chiến sĩ Tiểu đoàn 8 đánh bật gây cho chúng thiệt hại nặng nề. Mặt khác chúng còn tung các toán biệt kích, thám báo, luồn sâu đánh vào phía sau hậu cứ của ta đó là khu vực Cống Ba Lỗ, vùng Đắk Uy, Võ Định, khu vực bản Ngô Thanh, Tà Rộp, điểm cao 674, Ngọc Bay... đi tới đâu cũng bị lực lượng Sư đoàn 10 đánh cho tan tác.
Ngày 28 tháng 1 năm 1973, là thời điểm Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, tiếng súng đạn, bom pháo, tiếng máy bay tạm thời yên ắng được một hai ngày đầu, các ngày tiếp theo địch cố tình không chấp hành hiệp định vẫn cho pháo bắn rải rác về phía chốt của chúng ta. Cảnh giác trước âm mưu của chúng, cán bộ, chiến sĩ ta ở các khu vực đặc biệt Tiểu đoàn 8 luôn luôn cảnh giác, tiếp tục củng cố hầm hào, bố trí lại trận địa bố phòng, tích trữ vũ khí, lương thực, sẵn sàng giáng trả quân địch nếu chúng liều lĩnh phá hoại hiệp định.
Thời gian đó khoảng ngày 3 hay ngày 5 tháng 2 năm 1973, khoảng 9 giờ sáng, trinh sát báo về có một đơn vị địch đang từ hướng Đắk Uy, Võ Định bắc đường 14 đang lén lút về Kon Tum đã đến gần khu vực chốt giữ 601.
Nắm được tâm lý đang hoang mang dao động vì bị lực lượng ta giáng cho tơi tả. Hơn nữa chúng cũng ngỡ tưởng hiệp định ngừng bắn có hiệu lực rồi, không phải đi đánh nhau nữa, tính mạng chúng được bảo toàn nên được về sống cùng vợ con... các đồng chí chỉ huy Tiểu đoàn 8 và chỉ huy Đại đội 6 đã mưu trí, một mặt lệnh cho toàn chốt sẵn sàng chiến đấu, một mặt cử một tổ ra sát đường 14 kêu gọi binh sĩ ngụy trở về hòa hợp dân tộc. Tiếp đó có tên chỉ huy địch lên tiếng, hiệp định ký kết rồi, đã có hiệu lực hai bên không đánh nhau nữa, nên để cho chúng được đi lại trở về Kon Tum. Chính trị viên Đại đội 6 Bùi Viết Nhần nói luôn: “Đúng hiệp định đã có hiệu lực, bên nào phải ở yên bên đó, tại sao các anh lại đưa quân sang xâm phạm khu vực chúng tôi quản lý, chính vì hiệp định có hiệu lực nên chúng tôi không cho đơn vị nổ súng để tiêu diệt các anh. Toàn khu vực này chúng tôi đã bố trí sẵn hỏa lực và lực lượng, nếu không có sự đồng ý của chúng tôi các anh cứ liều lĩnh đi thì sẽ bị tiêu diệt hết. Nhất trí không đánh nhau không nổ súng nhưng trước mắt yêu cầu chỉ huy các anh vào làm việc với chỉ huy tôi để bàn bạc...”.
Trước những lời nói khôn ngoan và sự cảnh báo cho địch biết, không còn cách nào khác, một số tên sĩ quan ra lệnh cho lính của chúng theo anh em ta vào chỉ huy của đại đội. Bằng những lời lẽ thuyết phục và chính sách 14 điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trong tình thế này không còn cách nào khác, các sĩ quan địch phải nghe theo và chấp thuận các điều kiện của cán bộ chiến sĩ Đại đội 6 Tiểu đoàn 8.
Từ sự mưu trí khôn khéo đó của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 6 Tiểu đoàn 8, toàn bộ 1 đại đội địch ngụy gồm hơn 100 tên đã bị ta bắt mà đơn vị không tốn một viên đạn. Trong số đó có 4 sĩ quan cấp úy ngụy, qua khai thác ta biết được cả tiểu đoàn địch đánh vào phía sau ta, đã bị tiêu diệt, số còn lại tìm cách trở về thị xã Kon Tum.
Đúng như dự kiến của ta, Hiệp định Pa-ri vừa ký kết chưa ráo mực, quân ngụy đã hò hét xua quân tái chiếm lãnh thổ, chiếm lại vùng đất, giành lại dân mà chúng đã mất. Cao điểm 601A là điểm then chốt nên là trọng điểm đánh phá hết sức ác liệt hòng chiếm lại nơi này. Nhưng chúng xông lên lần nào đều bị ta đánh bại phải bật ra xa. Tại chính dốc ở điểm cao 601 có 2 xác lính Nguỵ chết . Mưa nắng hàng ngày đã phân hủy 2 xác này , trơ lại 2 chiếc đầu lâu . Dốc “Đầu Lâu” cũng có tên từ hồi ấy (tháng 2-1973).
Cho đến nay tại địa điểm này cái tên: Dốc Đầu Lâu trên đường 14 xuôi về Kon Tum, đã trở nên quen thuộc với mọi người và cũng chính nơi đây một kỳ đài uy nghi, ghi lại những chiến công hào hùng của quân và dân Kon Tum nói chung và Trung đoàn 66 Sư đoàn 10 nói riêng mãi mãi trở nên bất diệt.

Đài tưởng niệm tại điểm cao 601 - Kon Tum


    

TRÒ CHUYỆN CÙNG CÁC CON THƯỢNG TƯỚNG VŨ LĂNG

TRÒ CHUYỆN CÙNG CÁC CON THƯỢNG TƯỚNG VŨ LĂNG
                                                      Nguyễn Đình Thi

Buổi chiều đi chơi quần vợt , tôi thường bỏ điện thoại vào ba lô , không để ý tới các cuộc gọi điện . Tối , giở điện thoại thấy cuộc gọi nhỡ của Vũ Thị Phương Mai - con gái Thượng tướng Vũ Lăng . Tôi gọi lại . Từ đầu dây bên kia Vũ Thị Phương Mai vừa nghe tôi gọi đã lên tiếng :
- Ủa ! Thế anh chưa đọc tin nhắn của em à !
Thực tình tôi cũng chưa vào mục tin nhắn nên không biết Phương Mai nhắn gì . Chưa kịp hỏi nội dung tin nhắn , Phương Mai đã nhanh nhảu nói luôn
- Vợ chồng em và anh trai em từ Sài Gòn mới ra Hà Nội . Anh Vũ Dũng chưa gặp anh , chúng em muốn mời anh tối nay đến nhà hàng HOA VIÊN anh em mình trò chuyện !
Đúng hẹn , 19 giờ tôi có mặt ở nhà hàng HOA VIÊN . Anh trai Phương Mai - Vũ Dũng cùng Minh Cầm bạn thân của Phương Mai , con gái đại tá Lê Ốc - nguyên Cục phó Cục Quân y đã có mặt ở nhà hàng đón tôi . Phương Mai cùng chồng do có việc bận , một lát sau cũng có mặt . Nhà văn Nguyễn Trọng Luân - Lính Sư đoàn 320 do phải tìm nhà hàng nên đến chậm một chút . Buổi gặp có 7 anh em , tất cả đều là lính và con nhà lính nên chuyện của chúng tôi đều xoay quanh chuyện lính và chuyện chiến trường . Phương Mai tính cách nhanh nhẹn , xởi lởi tuy không đi bộ đội ngày nào nhưng Phương Mai có kiến thức quân sự rất tốt , bình luận quân sự khá sắc sảo . Mỗi lần kể chuyện về Ba - tướng Vũ Lăng cô đều không giấu nổi nghẹn nghào :
- Cha em là một vị tướng , Cụ nghiêm khắc nhưng rất tình cảm với các con . Cụ luôn dạy các con phải sống giản dị , gương mẫu . Thời bao cấp , gia đình em cũng sống như tất cả các gia đình khác , cũng xếp hàng mua gạo , mua rau , mua thực phẩm , không bao giờ Ba lợi dụng chức vụ , địa vị để mang cái gì về cho gia đình . Ba luôn dạy bọn em sống phải giản dị , gương mẫu . Đã ngoài 50 tuổi nhưng những ký ức , những câu chuyện về Ba -Vũ Lăng cứ ùa về. Mai kể : Hồi còn nhỏ , em và các anh có lần được Ba cho xuống Đồ Sơn nghỉ mát . Hồi đó có biết gì đâu , thực ra mấy Cụ ở Bộ Tổng tham mưu đưa gia đình xuống Đồ Sơn nghỉ mát là để che giấu địch , còn các Cụ xuống đó để bàn kế hoạch tác chiến . Ba em lúc đó được giao nhiệm vụ đặc biệt vào Tổ Trung tâm . Đây là một tổ tuyệt mật , tổ chỉ có 4 người . Nhiệm vụ của Tổ là soạn thảo kế hoạch giải phóng Miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976 và tổ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ . Hồi đánh quân Dù ở đèo Phượng Hoàng , Ba em chết hụt khi xe của ông đang đi thì bị pháo địch bắn , xe thông tin đi cùng trúng đạn pháo , xe cháy , người trên xe hy sinh , may xe của Cụ thoát . Khi tôi kể mũi thọc sâu của Tiểu đoàn tôi được trang bị hỏa lực mạnh , bỏ qua những mục tiêu không quan trọng ở vòng ngoài , đánh thẳng vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23 - mục tiêu quan trọng nhất của địch ở thị xã Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975 , Phương Mai rất thích thú - Phương Mai bảo : Ông Cụ nhà em rất thích cách đánh đó . Rồi Phương Mai kể câu chuyện về chiến dịch Hồ Chí Minh mà tôi giờ mới biết : Chiến dịch Hồ Chí Minh lúc đầu đặt tên là chiến dịch Sài Gòn - Gia Định . Ba em đề nghị đổi tên thành chiến dịch Hồ Chí Minh , ý kiến đó của Ba được Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh và Bộ chính trị đồng ý . Cả câu chuyện về sử dụng lực lượng của Quân đoàn 3 trong chiến dịch Hồ Chí Minh , Phương Mai cũng rất nhớ . Cô bảo : em nghe một số các chú ở cùng Cụ kể - khi báo cáo Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh phương án sử dụng Sư đoàn 10 làm mũi thọc sâu chính , đánh thẳng vào nội độ Sài Gòn . Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh rất phân vân , đặt lại vấn đề : Tại sao Sư đoàn 10 hiện vẫn đang trên đường hành quân , chưa về tới vị trí tập kết , trong khi đó Sư đoàn 320 đã về tập kết rồi lại không dùng Sư đoàn 320 đánh thọc sâu mà lại dùng Sư 10 . Cụ kiên quyết bảo vệ phương án dùng Sư 10 thọc sâu . Trước lập luận của Cụ , cuối cùng Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh cũng đồng ý . Thực tế trong chiến dịch Hồ Chí Minh Sư đoàn 10 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ , là mũi thọc sâu vào Sài Gòn sớm nhất trong ngày 29/4/1975 . Khác với Phương Mai sôi nổi , mạnh mẽ , anh trai Vũ Dũng lại nhẹ nhàng , lành như con gái , không có tướng nhà quân sự giống cha . Vũ Dũng kể : giải phóng được khoảng 15 ngày , nghe tin em đỗ đại học , Cụ thưởng cho một chuyến vào Nam . Xuống sân bay Tân Sơn Nhất bơ vơ một mình , lúc đó Cụ đang bận họp , chẳng ai đón , may gặp Cụ Kim Tuấn cho đi nhờ xe về trạm của Quân đoàn ở phố Hai Bà Trưng . Đến trưa Cụ họp vẫn chưa xong , mấy anh em cảnh vệ thấy em mặc quân phục tưởng lính mới , gọi đi ăn , em cũng đi , bữa ăn hôm đó chỉ có rau muống luộc chấm muối ớt , nước rau muống thì vắt chanh làm canh , em nhớ mãi . Đến trưa trợ lý của Cụ Kim Tuấn xuống tìm em đi ăn , không thấy em đâu , hốt hoảng báo Cụ Tuấn . Cụ Tuấn vội vã đi tìm ,cuối cùng thấy em đang đứng ăn cùng mấy anh em phục vụ . Cụ bảo : Sao cháu lại ăn ở đây ? Em bảo : Không sao chú ạ , cháu ăn ở đây cũng được ! Lúc đó mọi người mới biết em là con Tư lệnh Quân đoàn .
Với tôi trong suốt những năm sống chiến đấu ở Quân đoàn 3 , tôi chưa bao giờ được gặp mặt tướng Vũ Lăng , duy nhất một lần trong lúc chuẩn bị đánh Lữ Dù 3 , chiều hôm đó 27 hay 28/3 tôi không nhớ rõ thấy một chiếc xe con chạy vượt lên hàng quân , một cán bộ nhận ra Cụ nói với tôi : Cụ Vũ Lăng đó . Đấy là lần duy nhất tôi nhìn thấy Cụ . Sau này có thời gian làm công tác nghiên cứu lịch sử tôi càng khâm phục và kính trọng Cụ , một vị tướng trận mạc tài giỏi , can trường . Thành tích và công lao đóng góp của Cụ cho Quân đội và Đất nước ta là rất lớn . Tiếc rằng việc ghi nhận đó vẫn chưa được thỏa đáng . Đúng như Trung tướng Khuất Duy Tiến phát biểu trong buổi gặp mặt các tướng lĩnh Quân đoàn 3 vừa qua : Lẽ ra các tướng như thượng tướng Hoàng Minh Thảo , thượng tướng Vũ Lăng , thượng tướng Đặng Vũ Hiệp là những vị tướng rất tài giỏi , rất mẫu mực , xứng đáng được tuyên dương ANH HÙNG trước tôi mới đúng . Tiếc rằng cả 3 vị tướng đó đến nay vẫn chưa được tuyên dương ANH HÙNG . Đây là một điều tôi rất trăn trở . Tác giả bài viết này cũng mong các vị tướng tài giỏi này sớm được Nhà Nước tuyên dương ANH HÙNG

Ảnh: Vũ Thị Phương Mai, Vũ Dũng ( đứng hàng sau- con thượng tướng Vũ Lăng ), hàng trên từ phải qua trái Nguyễn Đình Thi, nhà văn Nguyễn Trọng Luân và anh Minh ( chồng Phương Mai )

    

CÓ MỘT NGUYÊN BÍ THƯ TỈNH UỶ NHƯ THẾ

CÓ MỘT NGUYÊN BÍ THƯ TỈNH UỶ NHƯ THẾ

Hẹn hò mãi, hôm nay tôi và Nguyễn Trung Du trong Ban biên tập trang Lính Tây Nguyên mới có dịp lên Hoà Bình thăm các anh trong Ban liên lạc Cựu chiến binh Mặt trận Tây Nguyên tỉnh Hoà Bình. Hoà Bình cách Hà Nội chẳng xa, có 80 km thế mà cũng hơn 10 năm tôi mới có dịp trở lại. Đường lên Hoà Bình giờ khá hơn nhiều nhưng mật độ xe cộ lưu thông giờ đông quá nên xe chỉ chạy được tốc độ 40, 50 km/giờ. Thú thật, với tôi cứ dời khỏi Hà Nội là cảm thấy dễ chịu, là cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản. Được hít thở căng lồng ngực bởi những làn gió trong lành, được hoà mình vào với cảnh sắc thiên nhiên, không còn cảnh ồn ào, chen lấn bởi dòng người, dòng xe cộ dày đặc như vô tận suốt ngày đêm thấy thích làm sao. Mãi trò chuyện chẳng mấy chốc xe chúng tôi cũng đã đến Thành phố. Anh Hoàng Việt Cường - lính Trung đoàn 66, nguyên Bí thư tỉnh Hoà Bình, Trưởng Ban liên lạc Bạn Chiến đấu Mặt trận Tây Nguyên tỉnh Hoà Bình hẹn đón chúng tôi ở toà nhà Viettel. Xe chúng tôi vừa dừng ở toà nhà Viettel chừng dăm phút thì thấy một chiếc xe KIA 4 chỗ ngồi đời cũ dừng lại . Bước ra xe đó là anh Hoàng Việt Cường làm tôi cứ ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng vì một đồng chí nguyên Bí thư tỉnh ủy đã 66 tuổi rồi mà lái xe rất ngon lành, chả cần người khác lái cho. Ngỡ ngàng nữa là anh đã là Bí thư tỉnh ủy mà vẫn đi "con KIA còi" 4 chỗ . Tôi đã gặp nhiều cán bộ chỉ cấp Phòng thôi thì cũng KIA đời mới không thì cũng Masda hay Cam ry rồi, thế mà anh ... Ngồi trò chuyện cùng chúng tôi bên quán chè chén vỉa hè, anh hỏi chương trình mấy anh em lên Hoà Bình như thế nào ? có định đi đâu để anh dẫn. Tôi bảo anh: Hoà Bình nhiều cảnh đẹp lắm song hôm nay bọn em lên thăm các anh thời gian không được dài nên mình gặp nhau trò chuyện anh ạ. Rồi chúng tôi lên xe. Thành phố Hoà Bình trước đây là một thị xã miền núi nghèo, thị xã chỉ có vài dãy phố chạy theo ven quốc lộ 6. Từ ngày có nhà máy thủy điện xây dựng ở đây, thị xã có rất nhiều đổi mới, thành phố giờ mở rộng về phía Bắc sông Đà rộng gấp nhiều lần thành phố cũ, nhìn qua cửa kính xe tôi thấy rất nhiều nhà biệt thự với lối kiến trúc kiểu Pháp đẹp mọc lên, điều này chứng tỏ đời sống người dân nơi đây cũng ngày trở lên khá giả, chứ cách đây 15, 16 năm bạn lên thị xã này có tìm mỏi mắt cũng không thấy một ngôi nhà đẹp. Xe đưa chúng tôi chạy sát chân đập thủy điện Hoà Bình sang phía Bắc thành phố, dịp này hồ đang đang tích nước, nhà máy không chạy nên nhìn dòng sông Đà rất hiền hòa, thơ mộng, nước trong xanh có thể nhìn thấy tận đáy. Chạy hết khu phố mới, xe chúng tôi dừng lại ở một nhà hàng sát ven núi, nghe nói khu vực này khi xây dựng nhà máy thủy điện Sông Đà các chuyên gia Liên Xô sang giúp ta xây dựng ở tại đây. Nhà hàng không cầu kỳ, sang trọng nhưng đẹp, nó đẹp bởi cảnh thiên nhiên thơ mộng, có rừng, có suối, có tiếng hót véo von của chim hoạ my làm cho khách đến đây khá đông. Nhìn dãy ô tô đỗ ngoài bãi chủ yếu là biển xe Hà Nội thì biết dân Hà Nội không lầm khi chọn địa điểm này làm nơi gặp gỡ cuối tuần, mặc dù rất xa. Đón chúng tôi tại nhà hàng là anh Nhuần - Phó ban thường trực Ban liên lạc tỉnh Hoà Bình, một lát sau anh Bùi Tuấn Hải - Nguyên Giám đốc Sở Nội Vụ tỉnh, thường trực Ban liên lạc cũng có mặt, các đồng chí ở Tỉnh đội Hoà Bình nghe tin trong đoàn chúng tôi có Trung tướng Phạm Quang Hợi - nguyên Tư lệnh Quân khu 3 đi cùng cũng đến. Câu chuyện của chúng tôi vẫn xoay quanh về những năm tháng chiến đấu gian khổ ở Tây Nguyên. Trung tướng Phạm Quang Hợi hết sức bất ngờ khi nghe nguyên Bí thư Hoàng Việt Cường kể chuyện trận đánh Play Cần đợt 1 ( tháng 5/1972 ). Hoá ra cả Trung tướng Phạm Quang Hợi và Bí thư Cường đều tham gia trận đánh ngày hôm đó, chỉ khác là mỗi người ở một hướng cửa mở, thế mà 46 năm sau 2 người mới biết chuyện này. Ngồi trò chuyện với chúng tôi mà chuông điện thoại của anh Cường chốc chốc lại réo, người thì hẹn anh đi chỗ này, đi chỗ khác, người thì mời anh trưa nay đến chỗ em, người thì hẹn anh buổi chiều ... Anh cứ liên tục trả lời điện thoại. Kể cũng hay một người dời chức vụ đến hơn 4 năm mà vẫn còn nhiều người mời mọc như thế này chứng tỏ khi còn làm việc anh phải xử sự như thế nào mới được thế. Chứ ối người quyền cao, chức trọng hơn anh , về nghỉ một cái là hôm sau chả ma nào đến chơi hoặc hỏi thăm nữa, điều này làm cho tôi càng kính trọng anh hơn. Có lẽ ấn tượng nhất với tôi và mọi người trong đoàn vẫn là chuyện đi tìm hài cốt đồng đội của Ban liên lạc Mặt trận Tây Nguyên tỉnh Hoà Bình. Anh Cường kể: Trăn trở về chuyện vẫn còn nhiều đồng đội nhập ngũ cùng anh hy sinh vẫn còn nằm lại ở chiến trường Tây Nguyên. Năm 2011, lúc đó vẫn còn là Bí thư tỉnh ủy Hoà Binh, anh quyết định cùng mấy anh em trong Ban liên lạc trở lại Kon Tum, vùng đất từng chiến đấu năm xưa để tìm đồng đội. Suốt mấy ngày đi khắp các nghĩa trang trên địa bàn Kon Tum, cứ phần mộ nào có Liệt sỹ quê Hoà Bình là dùng máy ảnh chụp lại, cuối cùng cũng tìm được 233 phần mộ liệt sỹ và hơn 100 danh sách liệt sỹ ở nhà bia tưởng niệm là con em tỉnh Hoà Bình, sau đó về thông báo cho các gia đình. Năm 2012, anh lại cùng anh em trong Ban liên lạc quyết định trở lại Kon Tum khảo sát lần 2. Năm 2017, sau khi nghỉ hưu có thời gian rảnh hơn, anh bàn với Ban liên lạc và một số gia đình đưa hài cốt các Liệt sỹ về quê. Anh trực tiếp cũng 2 anh em trong Ban liên lạc đi vào Kon Tum làm việc này. Ở đất nước mình có lẽ đây là lần đầu tiên tôi được nghe câu chuyện một nguyên Bí thư tỉnh ủy đi tìm hài cốt đồng đội và đưa hài cốt đồng đội từ chiến trường xưa về quê. Việc đưa hài cốt đồng đội về quê gặp rất nhiều khó khăn, anh em trong Ban liên lạc đều tuổi cao và sức khỏe yếu, tài chính Ban liên lạc không có, gia đình các Liệt sỹ đều nghèo, thân nhân liệt sỹ thì người còn người mất, thủ tục đưa hài cốt Liệt sỹ về quê tưởng đơn giản nhưng cũng không hề đơn giản, đủ các thủ tục rồi lại còn nhũng nhiễu của một số cán bộ phụ trách công việc này. Anh gương mẫu bỏ tiền cá nhân của mình ra góp , trong lúc kể chuyện anh còn nói vui: Nếu các bà vợ không cho thì lấy tiền thương tật Nhà nước hỗ trợ ra góp. Theo gương anh, các anh em khác trong Ban liên lạc cũng làm theo. Kinh phí có hạn không đủ tiền thuê xe, anh vận động anh em trong Ban liên lạc dùng xe của gia đình mình đi chở hài cốt, rồi tự lái. Riêng năm 2017, Ban liên lạc do anh phụ trách đã đưa được 11 hài cốt liệt sỹ từ Tây Nguyên và các chiến trường khác về quê hương trong niềm vui vô hạn của các gia đình Liệt sỹ , đưa tổng số hài cốt liệt sỹ mà các anh đưa về lên con số 15. Có lẽ chưa có Ban liên lạc nào trong cả nước lại đưa được nhiều Liệt sỹ về quê hương như Ban liên lạc Mặt trận Tây Nguyên tỉnh Hoà Bình. Câu chuyện về tìm và đưa liệt sỹ về quê cứ dài mãi cuốn hút chúng tôi. Nhìn đồng hồ đã hơn 14 giờ rồi, đã đến giờ chúng tôi phải về Hà Nội đành xin phép các anh. Suốt chặng đường từ Hoà Bình về Hà Nội chúng tôi vẫn bàn luận xoay quanh chuyện tìm liệt sỹ và đưa liệt sỹ về quê của Nguyên Bí thư tỉnh Hoà Bình - Hoàng Việt Cường. Tôi ao ước giá như cũng có nhiều cán bộ cấp cao của đất nước mình cũng nghĩ được và làm được như bí thư tỉnh Hoà Bình - Hoàng Việt Cường thì các gia đình liệt sỹ sẽ bớt đi được phần nào những đau buồn đằng đẵng suốt bốn mấy năm qua.
Thật kính phục anh và các đồng đội tỉnh Hoà Bình .
Ghi chép: Nguyễn Đình Thi


Nguyên Bí thư tỉnh ủy Hoà Bình trong buổi gặp mặt các Tướng lĩnh Quân đoàn 3 ngày 18/3/2018 

Ban liên lạc Mặt trận Tây Nguyên tỉnh Hoà Bình chụp ảnh lưu niệm cùng đoàn


    

18 NGÀY SỐNG TRÊN ĐẤT KẺ THÙ

Trong chiến công của các đơn vị ít khi người ta nhắc tới công lao của những người lính trinh sát . Họ là những người rất dũng cảm , mưu trí và chính họ đã góp một phần không nhỏ vào chiến công của các đơn vị . Để các bạn hiểu rõ hơn công việc thầm lặng này của các chiến sỹ trinh sát , Trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc bài : 18 NGÀY SỐNG TRÊN ĐẤT KẺ THÙ của bạn Nguyễn Công Trác - Nguyên đại đội trưởng C20 trinh sát - Sư đoàn 320

18 NGÀY SỐNG TRÊN ĐẤT KẺ THÙ
                                              Nguyễn Công Trác - Nguyên đại đội trưởng C20 trinh sát - Sư đoàn 320

Nhớ lại mùa khô đầu năm 1998 trong chiến dịch Đ7. Sư đoàn đang tiến công đuổi địch theo đường 7 đến tận Suông , Chúp.Vào sâu đất Công phông chàm gần 30km thì được lệnh phải rút về bên kia biên giới 30km. Đội hình sư đoàn gồm các trung đoàn bộ binh 48,52,64 nhanh chóng triển khai đào công sự hầm hào, bố trí vật cản, hình thành tuyến phòng ngự kéo dài theo đường 20 suốt từ Thiện ngôn, Sa mát tới Lò gò Xóm giữa thuộc địa bàn huyện Tân biên tỉnh tây ninh. Và từ đây cuộc chiến đấu đầy cam go khốc liệt đẫm máu và dai dẳng bắt đầu . Địch cho đại quân vượt qua biên giới áp sát các đơn vị chốt phía trước cuả ta. Suối Đà Ha trở thành địa danh nổi tiếng là nơi diễn ra những trận đánh ác liệt giành giật giữa ta và địch suốt cả mùa mưa năm 1978 khiến cả ta và địch đều phải chịu những thương vong tổn thất nặng nề.�Cần phải biết thực lực của địch trong khu vực tác chiến của sư đoàn, nắm được vị trí bố trí sở chỉ huy,binh hoả lực ,kho tàng, cơ sở hậu cần, phươngh tiện vận tải, địa hình đường xá, khả năng cơ động lực lượng phía sau của chúng phục vụ cho Sư đoàn làm kế hoạch tác chiến chuẩn bị tấn công địch vào mùa khô năm 1979. Đại tá Đoàn Hồng Sơn giao nhiệm vụ cho ban trinh sát Sư đoàn yêu cầu tổ chức ngay một phân đội trinh sát luồn sâu sang đất địch để nắm rõ tình hình .�Đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, một số cán bộ chiến sỹ trinh sát có tinh thần tư tưởng và sức khoẻ tốt , tinh thông ngiệp vụ được lựa chon cho đợt hoạt động này. Ban 2 giao cho tôi ( lúc đó là đại đội trưởng c20) trực tiếp chỉ huy phân đội. Tôi chọn đồng chí Lê Thanh Trung quê Thanh hoá một cán bộ trung đội trưởng, trẻ, khoẻ, nhanh nhẹn thông minh. Một sỹ quan lục quân khoa trinh sát mới ra trường làm phân đội phó. Quân số 12 người. Chia thành ba tổ. Có 9 trinh sát, 2 y tá và hai thông tin. Chúng tôi mang theo một máy thông tin 2w loại si lích 71. Một túi thuốc quân y cùng các loại thuốc và bông đủ dùng. Trang bị vũ khí mỗi người một tiểu liên AK với hai cơ số đạn và hai quả lựu đạn. Hoả lực chỉ có một khẩu M79. Mỗi tổ có một bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000, một địa bàn một ống nhòm . Tư trang cá nhân thì rất gọn nhẹ chỉ có tăng ,võng và một bộ quần áo. Nặng nhất là lương thực , thực phẩm mỗi người phải cõng trên vai tới 20 ngày ăn trong đó có 13 ngày cấp gạo và 7 ngày lương khô.�Chúng tôi chọn vị trí bàn đạp để xuất phát là một chốt tiền tiêu trên một mỏm đồi cao của tiểu đoàn 7 bộ binh.Sau khi nghe bộ đội trên chốt cho biết tình hình . trước lúc trời tối chúng tôi chú ý quan sát địa hình gi nhớ các vị trí của đich ở phía trước. Xác định vật chuẩn. Lấy góc phương vị trên thực địa , phổ biến quán triệt về thời gian, cự ly ,tốc độ., cách thức tiền nhập cho phân đội xong xuôi , tôi cho anh em ăn cơm tối và tranh thủ nghỉ lấy sức.�24 giờ. Tôi đánh thức anh em dậy làm công tác chuẩn bị và kiểm tra rồi lệnh xuất phát. Đêm yên tĩnh quá. Tối qua địch không đánh vào chốt. giờ này chắc chung đã ngủ say. Trời nhiều mây, đêm cuối tháng âm lịch nên trăng mờ và gió thổi rất mạnh. Bây giờ đã cuối tháng 7, trời se lạnh. Chúng tôi nhẹ nhàng rời đỉnh đồi xuống dốc, lướt đi giữa bãi cỏ tranh cao gần bằng mặt người. Lá cỏ tranh đẫm sương đêm, lấp lánh dưới ánh trăng. Mỗi người cách nhau chừng 5m .Mắt và tai căng ra để quan sát nghe ngóng động tĩnh. Tay đặt lên cò súng sẵn sàng chiến đấu cao. Thỉnh thoảng từ các lừm cây, mô đất hai bên phát ra những tiếng sột soạt và tiếng ho của địch.�Xuống tới chân đồi là bãi trống lớn toàn cỏ tranh. Thỉnh thoảng mới có vài cây khoọc non. Cuối bãi trống là một vạt rừng già đen thẫm. Chúng tôi đi về hướng đó. Có lẽ đã vào sâu đất địch được chừng một cây số. Tổ đi đầu đã vào đến bìa rừng. Hai tổ đi sau vẫn còn ngoài bãi trống. Bỗng nghe tiếng động mạnh, cành cây gãy…Rồi thấy tổ đi đầu chạy ngược trở lại. Cả phân đội nằm rạp xuống , súng giương lên sẵn sàng nhả đạn .Tôi ra hiệu cho anh em nằm yên nghe ngóng . Trong rừng thấy có động, một số tên địch đang ngủ trong các nhà hầm và công sự thức giấc. Có ánh đèn pin loang loáng cùng những tiếng hỏi nhau lao xao bằng tiếng khơ me. Một lúc sau yên tĩnh trở lại, chắc chúng nghĩ tiếng động là của thú rừng đi ăn đêm nên tiếp tục ngủ.Tôi ra hiệu cho phân đội nhẹ nhàng lùi ra giữa bãi trống . Kiểm tra quân số thấy đủ cả nhưng cậu Thắng “ đen ”người Hà nội do trời tối đã ngả vào công sự của địch, văng mất chiếc ba lô ra khỏi người. Tôi và Lê thanh Trung hội ý nhanh nhắc mọi người thận trọng. Phải khẩn trương tranh thủ thời gian trước khi trời sáng. Vòng tránh, tiến nhanh về phía sau lưng địch đề phòng sáng dậy thấy có dấu vết quân đội Việt nam xâm nhập, chúng sẽ cho quân lùng sục và truy đuổi.�Cả phân đội như một con trăn gió khổng lồ, không một tiếng động nhẹ nhàng luồn lách lướt nhẹ dọc theo các bãi cỏ tranh thẳng tiến vào rừng . Nhiều lần chúng tôi đi qua ngay sát hầm địch. Tôi nghe rõ cả tiếng ngáy, tiếng nói mê và tiếng chúng đập muỗi. Khi trời sáng chúng tôi lọt hẳn phía sau của một đơn vị địch. Đến một chỗ rừng cây lúp xúp, rậm rạp có một con suối cạn tôi cho phân đội dừng lại ăn lương khô và nghỉ ngơi cho lại sức. Suốt đêm căng thẳng mệt mởi đã có người ôm súng tựa lưng vào ba lô ngồi ngủ thiếp đi. Bỗng vang lên những tiếng nổ lớn làm mọi người cùng thức giấc , giật mình ngơ ngác!.Thì ra cách chỗ chúng tôi vài trăm mét là một trận địa pháo lớn của địch cũng đang bắn về phía việt nam. Tiếng hô khẩu lệnh “ bắn ” nghe rất rõ. Tôi vừa nhai xong vài thanh lương khô đang uống nước định xem bản đồ thì bỗng có tiếng chim lếu tếu lao xao trên ngọn cây rất gần. Theo kinh nghiệm đi rừng tôi biết chắc chắn đang có người hoặc thú lớn chim mới kêu như thế. Không sai, Một toán lính địch đang mặc đồ đen cổ quàng khăn rằn, vai khoác súng, tay cầm xô chậu đang đạp cây đi về phía chúng tôi. Bọn chúng có năm tên, đi rất nhanh . Vừa đi vừa gọi nhau, tiếng xô chậu va vào nhau kêu lanh canh. Chúng đi theo dọc đội hình chúng tôi đang nằm chỉ cách vài chục mét. Tôi ra hiểu cho bộ đội nằm im theo dõi . Các họng súng đều rê theo chúng sẵn sàng nhã đạn nếu bị lộ. Nhưng chúng không phát hiện ra chúng tôi. Đến đoạn suối dưới hạ nguồn , nơi có nhiều nước cách chúng tôi khoảng trăm mét chúng mới dừng lại. Tất cả chúng tôi vẫn còn nghe thấy tiếng chúng gọi nhau và tiếng nước đổ ào ào .�Những ngày sau đó ngày nào chúng tôi cũng cho hai tổ đi nắm địch. Một tổ “ở nhà” bảo vệ điện đài , lương thực, tư trang. Theo chỉ đạo của ban trinh sát sư đoàn, thời gian đầu chúng tôi tập trung điều tra các trận địa pháo, các sở chỉ huy và đội hình địch đang bố trí trước trận địa phòng ngự của ta. Thời gian sau chúng tôi vào sâu hơn điều tra các mục tiêu nghi là sở chỉ huy, nơi tập kết lương thực , đạn dược, hệ thống kho tàng, đường xá, phương tiện vận chuyển và những quy luật hoạt động phía sau của địch. Hằng ngày mọi kết quả điều tra đều được tôi tổng hợp viết điện rồi cho lên máy gửi báo cáo ngay về ban trinh sát sư đoàn.�Để giữ bí mật chỗ ở. Sáng dậy chúng tôi đều thu dọn gọn gàng cẩn thận ngụy trang xoá sạch dấu vết. Anh em điều hiểu ở ngay sát địch thận trọng không bao giờ là thừa. Vì vậy mọi người đều tự giác làm tốt công việc không phải để cán bộ nhắc nhở.Chúng tôi tuyệt đối không đi theo đường mòn mà hoàn toàn đi cắt góc phương vị bằng bản đồ, địa bàn . Vì vậy, tuy hoạt động dài ngày trên đất địch nhưng chúng tôi không lần nào dính mìn . Nhiều lần gặp địch , chúng tôi đều phát hiện trước. Chủ động luồn trách, bảo đảm bí mật an toàn để hoàn thành nhiệm vụ. Sống trong đất địch chúng tôi rút ra một kinh ngiệm : Nếu cảnh giác cao, bình tĩnh, thận trọng ,giữ được bí mật thì ở gần địch sẽ là nơi bất ngờ và an toàn nhất. Vì thế về sau này tuy có chuẩn bị mấy chỗ dự bị nhưng chỗ suốt cạn gần trận địa pháo là nơi chúng tôi đã ở lâu nhất mà địch không phát hiện được .�Nhiệm vụ đã hoàn thành . Tính ra chúng tôi đã sống trên đất địch 18 ngày . Lương thực cũng đã cạn , một số đồng chí bị ốm. Ban 2 điện cho phân đội rút về . Tôi hội ý cán bộ , phổ biến kế hoạch và thời gian hành quân . Anh em rất phấn khởi , tư tưởng và quyết tâm cao. Khi trở về có thuận lợi là mang vác gọn nhẹ hơn ( vì lương thực đã gần hết ). Nhưng do nhiều ngày ăn uống kham khổ, lại căng thẳng , sức khoẻ giảm sút nên mọi người lại cảm thấy mệt mỏi.�Chúng tôi đi về hướng Đông nam, men theo bìa rừng để tìm chỗ vượt về, Nhưng chỗ nào cũng phát hiện có địch. chúng rải quân thành một tuyến hàng ngang kéo dài giữa rừng khoọc trống trải đối diên với các tổ chốt của ta.Chúng đào các hố chiến đấu kiểu chữ L ở giữa đắp đất tránh pháo. Hai đầu để lên xuống và ngắm bắn .( Chúng tôi vẫn gọi chúng là hầm còi, vì nó giống cái còi ). Mỗi hầm có hai tên cách xa nhau từ 10-30m và kéo dài hàng km . Địa hình trống , cây khoọc thưa và cỏ thấp nên tầm quan sát rất rộng. Ban ngày chỉ một con thỏ chạy qua cũng bị chúng phát hiện. Hơn 5 giờ chiều, qua ống nhòm theo dõi bọn đưa cơm, chúng tôi đã biết từng vị trí công sự của địch. Tôi quyết định đường vượt sẽ là nơi giữa hai công sự địch cách xa nhau nhất.�Sau khi đã hội ý cán bộ. Phổ biến quán triệt đến từng người. Đợi trời tối hẳn , lợi dung lúc địch đang chủ quan sơ hở, chúng tôi chia làm hai tổ yểm hộ lẫn nhau, nhẹ nhàng từng người một vượt nhanh qua phòng tuyến của địch. Chúng tôi nhằm hướng cao điểm nơi có các trận địa chốt của ta đi tới. Mọi việc đều thuận lợi suôn sẻ. Ai cũng vui mừng và thở phào nhẹ nhõm. Bây giờ nỗi lo lớn nhất là mìn. Bao giờ trước trận địa của ta và địch mật độ mìn cũng bố trí rất dày đặc. Rồi còn lo nếu không cẩn thẩn thì lại “ quân ta chiến thắng quân mình ”. Chúng tôi vừa đi chậm lại, vừa thận trọng dò mìn. Tới chân cao điểm đã cách xa địch khoảng 100m tôi cho phân đội dùng lại nghỉ đêm. Mờ sáng hôm sau chúng tôi luồn rừng vòng về sau trận địa chốt của bộ đội ta và leo lên cao điểm. Trời sáng rõ , tổ đi đầu phát hiện phía trước có người. Chúng tôi dừng lại quan sát . Trước mặt là một con đường mòn. Một tốp bộ đội ta đang gùi hàng vừa di vừa nói chuyện vui vẻ … . Khi đã biết đúng là quân mình, chờ cho họ đi khuất tôi cho phân đội ra đường đi theo họ lên chốt .� Đó là một trận địa chốt phía trước của tiểu đoàn 9 bộ binh trung đoàn 64 . Chúng tôi vào chốt nói chuyện với anh em bộ binh, xin nước uống, nhờ bếp nấu cơm ăn .. vì đã mấy bữa phải nhai lương khô ai cũng thèm được ăn một bữa cơm có rau và canh nóng. Trong khi chờ cơm chín, tôi cho thông tin lên máy và gửi điện báo cáo về ban trinh sát : “ phân đội đã hoàn thành nhiệm vụ an toàn. Xin chỉ thị của cấp trên ”.��Luồn sâu nắm địch là một công việc nhiều nguy hiểm và gian khổ. Chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể đổ máu, hy sinh. Nhưng với lính trinh sát chuyện đó là bình thường, chúng tôi không sợ hãi hay e ngại . Điều làm chúng tôi luôn lo lắng , trăn trở là làm sao nắm được chính xác mọi thông tin về địch , báo cáo kịp thời . Giúp người chỉ huy hạ quyết tâm và đề ra phương án tác chiến đúng đắn giành thắng lợi giòn giã , trọn vẹn trong từng trận đánh. Hạn chế thấp nhất sự hy sinh xương máu của đồng đội.� 18 ngày luồn sâu nắm địch của trinh sát đại đội 20 đã góp phần vào chiến thắng chung của sư đoàn trong chiến dịch tiến công giải phóng Căm pu chia và được cục 2 bộ tổng tham mưu đánh giá là một đợt luồn sâu xuất sắc. Là tấm gương điển hình cho các đơn vị trinh sát trên toàn tuyến biên giới tây nam rút kinh nghiệm và học tập .�Đã hơn 30 năm trôi qua kể từ ngày ấy. Đồng đội của tôi có một số người đã không trở về …Trung đội trưởng Lê thanh Trung sau này đã là Đại tá trưởng phòng trinh sát quân báo quân đoàn 3. Chúng tôi đều đã nghỉ hưu. Nhưng mỗi lần có dịp gặp nhau, nhắc lại đợt luồn sâu năm ấy mọi người đều cảm thấy thật là may mắn. Chỉ có một điều đáng tiếc là đã biếu không cho bọn “ Miên ” một chiếc ba lô mà trong đó phải đến mười mấy cân toàn là muối, gạo , lương khô và thịt hộp

TP Thái binh. Tháng 10 năm 2014 -  Nguyễn công Trác



    

TIÊU DIỆT LỮ ĐOÀN DÙ SỐ 3 TRÊN ĐÈO PHƯỢNG HOÀNG - MADRAC

KỶ NIỆM 43 NĂM CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN
Cách đây vừa tròn 43 năm , Lữ đoàn Dù số 3 , lực lượng tinh nhuệ nhất của quân đội Sài Gòn được đưa lên khu vực đèo Phượng Hoàng - MaDrac , một tuyến đèo hiểm trở dài tới 15km , nhằm chặn đường tiến quân của ta từ Buôn Ma Thuột xuống đồng bằng ven biển Miền Trung và Nha Trang . Nhưng chỉ sau 4 ngày tấn công ( từ 29/3 đến sáng 1/4/75 ) , toàn bộ tuyến phòng thủ này của địch đã bị phá vỡ . Lữ đoàn Dù 3 cùng toàn bộ lực lượng địch phòng thủ ở đây đã bị ta tiêu diệt . Trận đánh này có thể coi là trận then chốt thứ 4 của Chiến dịch Tây Nguyên ( 1/ Trận Buôn Ma Thuột , 2/ Trận đánh Sư đoàn 23 đến tái chiếm Buôn Ma Thuột , 3/ Trận truy kích địch trên đường 7 ) , góp phần vào tiêu diệt toàn bộ Quân đoàn 2 của địch , giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên . Nhân kỷ niệm 43 năm Chiến dịch Tây Nguyên và trận tiêu diệt Lữ đoàn Dù 3 của địch . Trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu lại cùng bạn đọc trận thắng vẻ vang này

TIÊU DIỆT LỮ ĐOÀN DÙ SỐ 3 TRÊN ĐÈO PHƯỢNG HOÀNG - MADRAC
                                                                                           Nguyễn Đình Thi - Sư đoàn 10


Ngay sau khi nỗ lực tái chiếm Buôn Ma Thuộc của Sư đoàn 23 thất bại . Địch thấy nguy cơ miền Trung sẽ bị chia cắt từ khu vực Khánh Hoà , Phú Yên và như vậy toàn bộ lực lượng địch còn lại tại quân khu 1 sẽ không thể rút về phía Nam bằng đường bộ . Trước tình hình nguy cấp như vậy Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu cùng Bộ Tổng Tham mưu Nguỵ quyết định đưa LỮ ĐOÀN DÙ 3 - Lực lượng tổng dự bị chiến lược , lực lượng tinh nhuệ nhất của Quân đội Sài gòn đang trên đường từ Quảng Nam xuôi tàu Hải Quân về phòng thủ ở Sài gòn , nhưng do tình hình Cao Nguyên nguy cấp , đại quân ta từ Buôn Ma Thuột đang tràn xuống đồng bằng ven biển Miền Trung . Không còn cách nào khác địch buộc phải đưa Lữ Dù 3 lên phòng thủ ở khu vực đèo Phượng Hoàng - Madrac , một con đèo rất hiểm trở dài 15 km , nối liền Đắc Lắc với Khánh Hoà , nhằm chặn không cho đại quân của ta tràn xuống đồng bằng ven biển miền Trung
Ngày 20/3/75 , sau khi được đưa đến đèo Phượng Hoàng - Ma Đrac , LỮ DÙ 3 đã lập tức triển khai kế hoạch phòng thủ như sau :
- Tuyến trên cùng do Tiểu đoàn 5 cùng một chi đội xe thiết giáp , 4 pháo 105 ly được bố trí chốt giữ tại khu vực Buôn M Guê
- Tuyến giữa do Tiểu đoàn 6 cùng một chi đội xe thiết giáp , 4 pháo 105 ly , chốt giữ ở khu vực từ Buôn M Yui đến MGam ,
- Tuyến cuối do Tiểu đoàn 2 chốt giữ đóng ở Buôn Ya Thi được bố trí 4 pháo 105 ly
- Tiểu đoàn 3 pháo binh và đại đội 3 trinh sát đóng tại Dục Mỹ . Mỗi tiểu đoàn cách nhau từ 7 tới 8 km .
- Lữ đoàn Bộ đóng tại trại Công Chánh
Kế hoạch tác chiến của chúng rất bài bản , xe tăng , xe thiết giáp được đào hầm giấu ở các vị trí hiểm yếu bên các vách núi ven đường . Các đại đội trong tiểu đoàn DÙ được bố trí theo chiến thuật mạng nhện , vừa phòng thủ tốt , vừa sẵn sàng cơ động hỗ trợ nhau khi bị tấn công . Toàn bộ lực lượng còn lại của quân địch ở đây như quân biệt động , bảo an đều do LỮ DÙ 3 chỉ huy . Chúng rất tin tưởng lần này quân DÙ sẽ chặn đứng được đà tiến công của quân ta .
Trong lúc đang đánh lực lượng Sư đoàn 23 Nguỵ đến phản kích tái chiếm Buôn Ma Thuột . Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã nghĩ tới tình huống địch đưa quân lên chiếm đèo Phượng Hoàng - Ma Đrac để ngăn chặn ta phát triển xuống Khánh Hoà nên ngày 18/3 đã lệnh cho Trung đoàn 25 cử một tiểu đoàn vòng lên phía Bắc sau đó cắt ra đường 21 , chiếm đèo Phượng Hoàng và lệnh cho Sư 10 điều Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 66 ra chiếm đèo Ma Đrac . Nhưng cả 2 đơn vị trên đều đến chậm , khi đến nơi thì quân Dù đã chiếm xong rồi .
Trước một đối tượng tác chiến có rất nhiều kinh nghiệm như quân DÙ , chúng lại bố trí ở một địa hình hiểm trở , có nhiều lợi thế , lại được pháo binh và không quân chi viện tối đa , ta không thể dùng lực lượng mạnh đánh trực diện như đánh Sư đoàn 23 địch đến phản kích vừa qua mà phải có cách đánh thích hợp với đối tượng tác chiến mới này .
Sau khi xem xét cách bố phòng của quân DÙ , ta đã phát hiện được điểm yếu trong cách phòng thủ của chúng là trải dài trên một tuyến tới 30 km theo trục đường 21 , suốt từ Nam Khánh Dương tới Dục Mỹ . Cách bố trí này chỉ có chiều sâu , không có chiều rộng nên rất hở sườn , khi bị ta tấn công chúng rất khó hỗ trợ nhau vì chúng cách xa nhau .
Kế hoạch tiêu diệt LỮ DÙ 3 được Bộ Tư lệnh Sư đoàn 10 và Quân đoàn 3 thống nhất như sau :
- Trung đoàn 66 có nhiệm vụ : dùng một lực lượng chặn phía sau Tiểu đoàn 5 Dù , lực lượng còn lại tấn công tiêu diệt tiểu đoàn 5 Dù , sau đó làm nhiệm vụ dự bị cho Sư đoàn .
- Trung đoàn 28 là mũi tấn công chính diện được tăng cường một tiểu đoàn xe tăng , xe thiết giáp đánh thẳng theo trục đường 21 , tiêu diệt tiểu đoàn 6 Dù . Sau đó đánh phát triển tiếp theo yêu cầu của nhiệm vụ .
- Trung đoàn 25 , luồn rừng vòng lên phía Bắc , sau đó tiến ra cắt đường 21 , dùng một lực lượng chốt chặn ở phía sau tiểu đoàn 6 Dù , một lực lượng vu hồi đánh vào sườn phía Bắc quân Dù , chia cắt Lữ Dù 3 ở tuyến giữa .
- Trung đoàn 24 vòng về phía tây , vượt dãy núi phía Tây rất hiểm trở sau đó tiến ra đường 21 , đánh chặn từ phía sau Lữ bộ Lữ Dù 3
Phương châm tác chiến của Bộ Tư Lệnh chiến dịch là : tấn công tiêu diệt LỮ DÙ 3 bằng nhiều trận . Trước tiên dùng hỏa lực pháo binh khống chế , tiêu diệt các trận địa pháo của quân DÙ , sau đó dùng lực lượng bao vây tiêu diệt từng tiểu đoàn DÙ . Thực hiện cài thế bằng lực lượng bao vây chặn hậu LỮ DÙ 3 ở phía đông . Kết hợp chặt chẽ đột phá chính diện với bao vây chia cắt 2 bên sườn . Quyết tâm tiêu diệt LỮ DÙ 3 trong thời gian nhanh nhất .
Đây là một trận đánh rất quan trọng nên Tư lệnh Quân đoàn 3 - Thiếu tướng Vũ Lăng cùng Chính ủy Quân đoàn - Đặng Vũ Hiệp đã xuống Sở Chỉ huy Sư đoàn 10 ở dãy núi phía Tây đèo Ma Đrac trực tiếp chỉ đạo trận đánh .
Ngày 29/3 , Mở đầu trận đánh Lữ Dù 3 ta tập trung pháo binh Chiến dịch , pháo binh của Sư đoàn , kể cả đưa pháo ĐKZ của bộ binh bí mật áp sát các trận địa pháo quân Dù tấn công . Trận đấu pháo giữa ta và địch kéo dài tới gần 6 tiếng đồng hồ . Mưu kế của ta là tiêu diệt các trận địa pháo của địch trước , làm mất chỗ dựa về hỏa lực của Quân Dù . Vì Quân Dù thường dùng chiến thuật áp đảo bằng hỏa lực pháo binh rồi hậu chiến . Với trận đấu pháo này ta đã gây tổn thất lớn cho pháo binh địch , 12 khẩu pháo của quân Dù bị phá hủy . Để chia cắt Lữ Dù 3 thành từng nhóm , không cho chúng chi viện lẫn nhau khi ta tấn công . Chiều 28/3 , các đơn vị được lệnh ra chốt chặn chia cắt Lữ Dù 3 :
- Tuyến 1 phía trên cùng : Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 66 chốt chặn phía sau tiểu đoàn 5 Dù .
- Tuyến 2 : Trung đoàn 25 chốt chặn phía sau tiểu đoàn 6 Dù .
-Trung đoàn 24 chốt chặn tuyến cuối , phía sau Lữ Bộ Lữ Dù 3 .
Như vậy mặc dù ta chưa nổ súng tấn công nhưng thế trận Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 Dù đã bị bao vây , chia cắt từ đêm 28 rạng 29/3 .
Sáng 29/3 , Trong lúc pháo binh bắn phá các trận địa pháo địch , Trung đoàn 66 được lệnh nổ súng tấn công Tiểu đoàn 5 Dù . Tiểu đoàn 7 sử dụng đại đội 1 cùng 4 xe tăng , 3 xe K63 đánh chính diện theo trục đường 21 , các đại đội còn lại hình thành 2 mũi đánh lên phía Nam và phía Bắc đèo Ma Đrac nơi có Sở chỉ huy Tiểu đoàn 5 Dù . Tiểu đoàn 8 dùng đại đội 7 chốt chặn trên đường 21 ( phía sau Tiểu đoàn 5 Dù ) , lực lượng còn lại đánh vào 2 bên sườn Tiểu đoàn 5 Dù . Sau 30 phút chiến đấu Tiểu đoàn 7 đã tiêu diệt được một đại đội quân Dù đang chiếm giữ đèo Ma Đrac , Sở chỉ huy Tiểu đoàn 5 Dù đóng ở đây bị hỏa lực ta đánh mạnh và bất ngờ đã vội vã tháo chạy , đại đội 1 cùng xe tăng đã phối hợp cùng đại đội 2 và đại đội 11 tổ chức tấn công vào lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 5 Dù , trước sức mạnh tấn công của ta quân Dù không chống đỡ nổi tháo chạy về phía Đông , nhưng chúng đã rơi vào trận địa đón lõng của Tiểu đoàn 8 chờ sẵn ở đây . 2 xe M113 của địch bị bắn cháy , ta bắt hơn 100 tên . Tiểu đoàn 5 Dù đến đây cơ bản đã bị xoá sổ .
Trung đoàn 66 tiêu diệt Tiểu đoàn 5 Dù và chiếm được đèo Ma Ddrac đã tạo thuận lợi cho Trung đoàn 28 tổ chức tấn công Tiểu đoàn 6 Dù . Sáng ngày 30/3 Trung đoàn 28 cũng được lệnh tấn công Tiểu đoàn 6 Dù . Lúc đầu ta phát triển khá thuận lợi chiếm được Sở chỉ huy Tiểu đoàn 6 Dù . Bị ta đánh mạnh lực lượng Tiểu đoàn 6 Dù co cụm về khu vực điểm cao 510 chống trả , các trận địa pháo địch ở Dục Mỹ cùng nhiều lượt chiếc máy bay ném bom vào đội hình tấn công của ta gây nhiều khó khăn cho Trung đoàn 28 . Do pháo binh của Sư đoàn lúc này còn ở xa chưa với tới các trận địa pháo địch ở Dục Mỹ . Sư trưởng Hồ Đệ quyết định cho Trung đoàn 28 dừng tấn công và quyết định cơ động pháo binh và pháo cao xạ từ phía sau lên khu vực Bản Mo bắn vào các trận địa pháo của địch ở Dục Mỹ , 4 xe tăng , 3 xe K63 từ Trung đoàn 66 cũng được lệnh lên tăng cường cho Trung đoàn 28 đột phá .15 giờ 30 được pháo binh và xe tăng chi viện , Trung đoàn 28 tổ chức tấn công vào cụm quân địch còn lại đang co cụm ở khu vực điểm cao 510 . Trước sức tấn công của bộ binh và xe tăng ta địch bắt đầu tháo chạy về phía Đông nhưng đã bị lực lượng chặn phía sau của Trung đoàn 25 vây chặt , Trung đoàn 25 bắt tại trận 250 tên , trong đó có cả tên Trung tá Nguyễn Hữu Thành -Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Dù . Đến chiều 30/3 , Tiểu đoàn 6 Dù cơ bản đã bị ta xoá sổ . Thừa thắng , Trung đoàn 28 lệnh cho Tiểu đoàn 3 cùng xe tăng xe thiết giáp tiếp tục hành tiến đánh địch theo trục đường 21 tiến về phía Tiểu đoàn 2 Dù . Sáng 31/3 , cánh quân chặn địch từ phía sau của Trung đoàn 24 sau 3 ngày xuyên rừng cũng bắt đầu tiến ra đường 21 , đoạn giữa trại Công Chánh với Dục Mỹ chốt chặn không cho quân Dù chạy về phía sau . Sự xuất hiện của Trung đoàn 24 ở phía sau làm cho địch vừa bất ngờ , vừa hoảng sợ , sức chiến đấu của quân Dù bị giảm sút nhanh chóng , một số đã tìm cách bỏ chạy , buộc Lê Văn Phát - Lữ trưởng Lữ Dù 3 phải ra một mệnh lệnh là bắn bỏ bất kỳ ai bỏ chạy . Lữ Dù 3 lúc này chủ yếu lo tìm cách phá vây . Để cứu nguy cho toàn bộ lực lượng còn lại đang bị Trung đoàn 24 chặn hậu . Từ sáng ngày 31/3 , địch điều tiểu đoàn 72 biệt động quân cùng một chi đội xe thiết giáp từ Dục Mỹ đánh lên kết hợp với lực lượng Tiểu đoàn 2 Dù từ phía Nam đèo Phượng Hoàng đánh xuống nhằm phá vây , chúng tập trung hỏa lực và huy động nhiều lượt chiếc máy bay ném bom vào trận địa Trung đoàn 24 , kể cả bom Na pan . Trận chiến giữa các chiến sỹ Tiểu đoàn 5 và 6 của Trung đoàn 24 với địch diễn ra rất ác liệt suốt cả ngày 31/3, có những lúc địch đã chiếm được chốt của đại đội 7-Tiểu đoàn 5 nhưng chúng vẫn không phá nổi vòng vây của Trung đoàn 24 . Sáng 1/4 , phát hiện nhiều xe nhiều xe thiết giáp , xe ô tô địch đỗ trên đường 21 có dấu hiệu bỏ chạy Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24 - Vũ Tài lệnh cho Tiểu đoàn 5 và 6 chuyển sang tấn công đánh vào Lữ bộ Lữ Dù 3 . Từ phía trên đèo Phượng Hoàng , Tiểu đoàn 3 -Trung đoàn 28 cùng xe tăng , pháo binh , pháo cao xạ sau khi tiêu diệt lực lượng của Tiểu đoàn 2 Dù chốt chặn ở Buôn Ya Thi và trên đèo Phượng Hoàng cũng đã phát triển đến . Đến 7 giờ 30 ngày 1/4 toàn bộ lực lượng Lữ Dù 3 còn lại đã bị quân ta tiêu diệt và bắt sống . Trận đánh Lữ Dù 3 đến đây cũng kết thúc .
Tin LỮ DÙ 3 một lực lượng mạnh nhất của quân Nguỵ Sài Gòn thất trận trên đèo Phượng Hoàng - Ma Đrac đã được nhanh chóng lan truyền về phía sau , làm cho toàn bộ quân địch án ngữ suốt từ Lam Sơn , Dục Mỹ ,Ninh Hoà tới Nha Trang hoảng loạn , không còn sức chiến đấu , chỉ lo tìm đường chạy , tạo thuận lợi cho các lực lượng của Sư đoàn nhanh chóng tiến xuống đồng bằng ven biển miền Trung , giải phóng một địa bàn rộng lớn suốt từ Dục Mỹ , Ninh Hoà tới Nha Trang . Chia cắt quân địch giữa Quân khu 1 với Quân khu 3 . Chặn đứng việc rút lui bằng đường bộ của toàn bộ lực lượng địch tại Quân khu 1 .
Trận Buôn Ma Thuột ta dùng NGHI BINH để tạo ra THẾ VÀ LỰC tiêu diệt quân địch . Còn trận tiêu diệt LỮ DÙ 3 trên đèo Phượng Hoàng - Ma Đrac khi không còn yếu tố bí mật nữa ta lại dùng MƯU và KẾ để tiêu diệt quân địch . Có thể nói sau trận Buôn Ma Thuộc thì đây lại là một TRẬN ĐÁNH RẤT HAY VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ , từ cách bày binh bố trận đến chọn cách đánh , đến sử dụng lực lượng ta đều làm rất hoàn hảo . Đặc biệt là ta dám táo bạo đưa cả Trung đoàn 24 vượt rừng , luồn về phía sau Lữ Dù 3 đánh chặn , chia cắt quân địch . Chính mũi chốt chặn từ phía sau hiểm yếu này của ta đã tạo một áp lực tâm lý rất lớn đối với toàn bộ quân Dù đang chiến đấu , làm cho một lực lượng mạnh như quân Dù cũng trở nên yếu và dẫn tới bị tiêu diệt hoàn toàn . Điều này một lần nữa chứng tỏ tài cầm quân của Bộ Tư lệnh Quân Đoàn 3 , mà đặc biệt ở đây là tướng Vũ Lăng , tướng Đặng Vũ Hiệp và tướng Hồ Đệ .

Đèo Phượng Hoàng - MaDdrac




    

TRỞ LẠI 1015

Trong các ngày 12,13 và 14/4 năm 1972 , cuộc chiến giữa các chiến sỹ Trung đoàn 64 - Sư đoàn 320 với Tiểu đoàn 11 - Lữ đoàn Dù 3 của địch ở điểm cao 1015 ( địch gọi là đồi Chalie ) diễn ra thật ác liệt . Mặc dù tiểu đoàn 11 Dù của địch chốt giữ ở đây  gần như bị xoá sổ song thiệt hại của phía ta cũng không hề nhỏ . Gần 300 đồng đội của Trung đoàn 64 đã anh dũng hy sinh trong trận đánh này . 43 năm sau trận đánh , người lính trinh sát của Trung đoàn 64 , nhà văn Nguyễn Trong Luân mặc dù vừa ốm dậy , sức khỏe còn yếu ông vẫn quyết tâm trở lại điểm cao 1015 để thắp hương cho đồng đội . Trong nước mắt nhạt nhoà tại chính nơi diễn ra chiến trận 43 năm về trước , ông như nhìn thấy bao đồng đội năm xưa gọi tên mình và ý tưởng xây một đài tưởng niệm các Liệt sỹ của Sư đoàn ngã xuống ở nơi đây đã nhen nhóm . May mắn làm sao từ bài báo viết về cuộc chiến ở điểm cao này mọi người đã nhiệt tình tham gia đóng góp . Nhờ sự hảo tâm này đến nay công trình Đài tưởng niệm tại điểm cao 1015 đã hoàn thành . Trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc bài : TRỞ LẠI 1015 của nhà văn Nguyễn Trọng Luân .


TRỞ LẠI 1015
1. Âm thanh khoảng lặng một cuộc đời
Tròn bốn mươi nam sau, đêm nay tôi lại ngồi viết về những cảm xúc hệt như mình còn trẻ. Bây giờ là 4 giờ sáng ở Kon tum. Có tiếng gà gáy eo óc. Bao nhiêu năm nay giữa đô thị ồn ào nào có lúc nào chợt thấy tiếng gà rừng trong đêm, giống như hơn bốn mươi năm trước tiếng gà lẻ loi trong một đêm bám địch?
Sáng mai tôi sẽ lên  1015 ( phía bên kia goin là Charlie). Đêm Kon tum khó ngủ quá. Tuổi hai mươi của tôi cũng là những đêm Kon Tum mất ngủ. Đêm nay tôi ngủ bên bờ Dabla, gà gáy bên dòng sông cao nguyên nghe thật buồn, thật day dứt, thật quen thuộc mà cũng thật xa xăm. Xa lắm rồi những trận đánh, xa lắm rồi những âm thanh tiếng nổ đạn bom nhưng tiếng thì thầm của rừng của dòng sông lại trở về gần thế, tiếng nấc bạn tôi trước lúc hi sinh cũng vẳng bên tai. Những khoảng lặng của một đời chinh chiến lại bật lên âm thanh. Âm thanh kí ức được cất lên từ khoảng lặng một đời. Âm thanh của khoảng lặng là tiếng lòng chân thực nhất nó như giọng nói của mình bật ra khi ta gọi mẹ.
Tôi từng viết những câu thơ từ những ngày làm lính chiến ở Tây nguyên và cả những bài thơ sau này khi mình đã vào tuổi 50 , 60. Nhạc sĩ Quỳnh Hợp phổ một số bài và nói với tôi rằng: Tập hợp những ca khúc đó chính là khoảng lặng của một đời làm lính của anh”. Tôi hoài nghi, nhưng đêm nay chuẩn bị cho cuộc leo núi ngày mai lên đỉnh Charlie thì tôi thấy nhạc sĩ Quỳnh Hợp thật có lí và sâu sắc. Giữa đêm khuya nghe tiếng gà gáy bên bờ Dapla, nghe âm thanh rừng của hơn bốn mươi năm về trước. Không có khoảng lặng này tôi làm sao quay trở về là mình lúc tuổi đôi mươi. Tất cả những gì đã viết về lính của mình đó thật sự là một khoảng lặng cho một đời người. CŨng như người ta viết tình ca cũng bắt đầu từ một sự lắng đọng lại của một tình yêu.
Sáng mai tôi sẽ lên đỉnh cao điểm 1015 dù biết con đường lên đó mấy ai đi để chơi bây giờ, và tôi được trở lại đó cũng là một điều may mắn

2 . May mắn
Không thể nghĩ mình có cái may mắn đến thế. Hỏi người Kon tum, thuê xe lên Charlie ai cũng lắc đầu và nhìn mình như rơi trên sao hỏa xuống. Nghĩ đến nhời của nhạc sĩ Quỳnh Hợp: Lên 1015 ngoài xe công ty nguyên liệu giấy thì không có ai có thể làm điều phi thường này. Người chủ khách sạn tôi ở sởi lởi:
- Ông lên Charlie với mục đích thăm thú ?
- Vâng tôi là chiến sĩ cũ của đơn vị đánh Charlie đây. Ông ấy tròn mắt :
- Trung đoàn 64 à? 320 à?
- Vâng tôi lính 64 đây anh.
Ông ấy lao vào bắt tay tôi, rối rít hỏi thăm anh Xuân Hùng, hỏi thăm anh Lê.Q.B hỏi cụ K.D.T. rồi nói:
- Tôi đã là bí thư huyện ủy Dakto, tôi thuộc 1015 lắm, tôi đã từng nhiều lần nghĩ cách biến 1015 thành rừng thành màu xanh cho khỏi tủi với vong linh anh em lính 320. Anh ngồi đợi tôi tôi gọi xe chỗ anh Hà anh Tân bên Nguyên liệu giấy cho.
Tôi khấp khởi ngồi đợi và ngắm anh. Anh xoay bên này bên kia gọi nhớ nhớ , phải cố mà đi, cố đưa một người lính đã từng chiến đấu nơi đó lên căm nén nhang cho đồng đội…anh ấy nói đến là lâu rồi mươi phút sau quay sang tôi:
- Anh yên tâm mà ngủ sáng sớm 6 rưỡi xe đến đón anh đi đường Sa Thầy lên hết Charlie sang đất Ngọc Hồi là 12 giờ trưa, anh quay về Dakto đứng đó mà nhìn lên Charlie lần nữa để thấy ngọn núi án ngữ Dak to Tân cảnh nó quan trọng nhường nào.
Đêm. Trời seo seo lạnh. Yên ắng quá. Ngày mai tôi biết nói gì với 400 liệt sĩ đơn vị tôi ngã xuống trên cao điểm ấy đây. Hơn 500 thương binh bạn bè tôi đang vật vã nơi đồng chiêm nơi núi đồi phía bắc có biêt là tôi sẽ lên cao điểm ấy không? NHững người dân tộc Ê Đê nay làm nương rẫy chân cao điểm liệu có biết một người lính già đang lần theo bước chân đồng đội mình, lần theo vệt máu các bạn bè tưới xuống Ba zan để lên ngọn núi có ba mỏm đẫm máu . Ấy là tôi chỉ kể những cái mỏm núi có bố phòng hỏa lực công sự của địch đó thôi chứ 1015 có biết bao nhiêu những điểm cao lợi thế vô cùng cho địch. Tôi lại chợt nhớ, lời trung tướng Khuất Duy Tiến nói với tôi trên chuyến bay vào Tây Nguyên, ngày 2/4/72 địch dùng 46 lần trực thăng đổ bộ tiểu đoàn 11 dù của lữ dù 3 xuống tây nam điểm cao 1015 tăng cường cho tuyến phòng thủ tây sông Pô cô. Chúng gồm 5 đại đội có hỏa lực mạnh tối đa có chi viện của không quân của các trận địa pháo từ 1049 , 966 và Diên bình. Một cụm chốt liên hoàn với hầm hào lô cốt cũ được củng cố lại và độ dốc rất lớn tưởng chừng chỉ lăn đá là quân ta đã đủ hi sinh …tôi lại nhớ anh Hinh C trưởng c tôi, anh Hiệp D trưởng anh The chính trị viên tiểu đoàn trong cùng một ngày đã hi sinh ở đó, tôi lại nhớ lời anh Thoán hôm gặp nhau ở hội trường Quân khu Thủ Đô. Anh Thoán nói: mày không vào 1015 để viết, để nói hộ chúng tao những ông già 70, 80 này thì mày xoàng. Anh Thoán nay đã nghỉ hưu với quân hàm đại tá khoa chiến lược HVQP mắt ngân ngấn nước…lúc Hiệp nó hi sinh, tớ là tham mưu phó trung đoàn được cử xuống chỉ huy D8 lại bị thương . Anh em họ khiêng mình ra trong lúc các chiến sĩ sốc lại đội hình người này ngã người kia lao lên... mình khóc trên võng, chả thấy đau đớn vì vết thương chỉ thấy nước mắt cứ tự nhiên ràn dụa …

CHarlie nhìn từ hướng bộ đội E64 vào tiếp cận ngày xưa
3. Chiến tranh đã lùi xa như chưa hề có
7 giờ sáng 25/3 tôi đã tới thị trấn Sa thầy. Dẫy Chư- mom- ray xanh mờ sương sớm. Mặt trời lên hồng phía Pô cô thị trấn khoác tấm áo bụi đỏ lẫn sương mai thật mềm. Tôi nhẹ nhàng bước vào nghĩa trang Sa Thầy. Sớm thế mà tôi đã thấy nhiều đoàn CCB từ Hà Nội đang lúi húi thắp nhang. Tôi tìm đến dẫy mộ cuối cùng đứng trước mồ anh Đàm Vũ Hiệp tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tôi hi sinh ngày 12/4/72 trên 1015.
- Anh Hiệp ơi, hôm nay tôi lên 1015 đây. Xin anh phù hộ tôi lên được đến đỉnh cao điểm để thắp nén hương cho anh em mình, xin anh chỉ đường cho tôi phù hộ tôi đi được an toàn…
sau lưng tôi mặt trời lên vượt đỉnh núi ánh nắng rọi về phía Chư Mom ray rực rỡ. khói nhang thơm tỏa một vùng, tôi đứng trước ngót trăm ngôi mộ chiến sĩ trung đoàn 64, tôi đang đi ngược về tuổi trẻ đi ngược về một vùng đồng đội. Nơi ấy có tuổi trẻ của tôi và các anh đang nằm đây. Nơi ấy để lại nỗi khiếp đảm của tiểu đoàn 11 dù Nguyễn Đình Bảo. Một mùa hè đỏ lửa Cao nguyên bắt đầu bằng những trận đánh 1015, 1049 Klengl, bắt đầu bằng cuộc phá toang phòng tuyến tây sông Pô cô của quân lực VNCH.
Từ thị trấn Sa thầy đi thêm 5 km nữa dọc theo chân núi Chư Mom ray tôi đến làng Rờ kơi. Suối Rờ koi thanh bình trong sáng sớm, những người đàn bà dân tộc giặt quần áo gò lưng soi trên những hòn cuội trắng, những người đàn ông lùa bò lên nương. Nơi này là cứ, bắt đầu để e64 vượt qua suối vượt qua những vạt rừng thấp để vào chiếm lĩnh 1015 từ phía tây nam. Nơi chúng tôi đang đứng đây là nơi tọa độ B52 suốt những ngày 10,11/4/72 địch ngăn chặn cuộc áp sát tấn công của ta. Chả còn dấu tích gì ngoài những vạt nương lồi lõm chập chùng những hố bom ngày xưa ngô non uốn lượn. Con suối trong veo và nắng chan hòa trên nương ngô, đường lên Char lie sẻ vào tôi kí ức dằn vặt, dậy lên những hơi thở gấp gáp của đêm chiếm lĩnh đầy máu
Vượt qua chừng 2 km vùng đệm ngày xưa. Xe cài cầu leo lên dốc, dốc dựng đứng rồi lại tụt xuống suối, đất đỏ bụi ngầu lên vào mùa khô tôi lại gặp những bụi le khô rang và chập chùng là lau sậy với gai sấu hổ. Ngược lên cao những nương rấy đang mùa trồng tỉa sừng sững là những cây Kow nia lá xanh ngát . Thật là bồi hồi đã hơn 40 năm tôi lại nhìn thấy những cái lều giữa nương , ở đó có người con gái địu con lên nương nhìn chúng tôi lơ đễnh. Nơi này như chưa từng có chiến tranh, Kow nia vẫn xanh ngằn ngặt đứng hiền lành như một ông già đóng khố che chở cho dân làng. Người đàn bà cho con bú trên sườn dốc nơi ngày xưa chúng tôi bám lưng nhau chịu bom chịu pháo trong cái đêm tiếp cận lịch sử này

 4. Nắng và gió 1015
Xe tôi leo lên chừng 30 phút. Đường dốc ngược, tôi bám vào tay nắm xe Uoats đu người lúc lên, tôi đạp chân đứng dậy lúc xuống dốc. Chân tôi “đạp phanh” bên phụ đến tê dại cả người. Chú lái xe bặm môi, mỗi khi nhả cầu cài thì khói lại bốc lên mù mịt. Cành cây , hoa lau va vào cửa kính hệt như hành quân trên Trường sơn năm nào. Lâu lắm tôi lại ngồi xe mà hít cái mùi khói xăng khét lẹt. Đã lên đến bình độ mà dân địa phương không thể làm nương được nữa, con đường toe toét đất đỏ và tôi đã nhìn thấy những bụi le khô rang, vài cây Kow nia độc thân đứng chênh chao trên dốc. Lúc này đã là 9 giờ sáng, xe lọt vào một cánh rừng thông non và tiếng ve bùng lên. Tôi bảo chú lái dừng lại, bước xuống xe . Người tôi như nghẹn lại rồi ngực bỗng như nở ra. Tiếng ve Tây nguyên mà hơn 40 năm nay tôi mới lại thấy. Nó ríu rít, nó quay tít mù nỗi niềm gì đó chả thể cắt nghĩa. Ve cứ ào ào trên đầu. Ai đang vui thì cảm giác ve kêu tung hô niềm vui. Anh đang nhớ thì tiếng ve day dứt như đào sâu vào nỗi nhớ. Ai đang buồn thì tiếng ve ra rả râm ri như cứa vào nỗi buồn khiến ta buồn thêm. Với tôi, tiếng ve 1015 là nỗi nhớ là nỗi buồn là ngày gặp mặt với anh em thân thiết của mình. Nhớ, buồn, vui là tiếng ve 1015. Tôi nghe như có tiếng gọi tên tôi, tôi nghe như có tiếng khóc của những đồng đội mới 18 tuổi, tôi nghe có tiếng gọi con của các anh chỉ huy tiểu đoàn, đại đội. Tiếng gọi mang giọng nói khu 4 khu3 cả những tiếng Tày Nùng Mường Mán …phía bắc. Bỗng trong chập chùng tiếng ve Charlie kêu máy điện thoại tôi đổ chuông.” Luân đã lên 1015 chưa?” Ra là trung đoàn trưởng Khuất Duy Tiến đang họp ở BTL quân đoàn 3 gọi cho tôi. Vâng thủ trưởng ơi em sắp lên đến mỏm 1. Dốc lắm, khó đi lắm ..
“ Luân ơi, cậu thắp hương nhớ nói tên tớ khấn anh em…tớ là Khuất Duy Tiến xin lỗi anh em, biết ơn anh em 64, tớ yếu quá không lên được với anh em xin anh em tha lỗi.” .Tôi biết cụ già lại khóc rồi. Tiếng ve bỗng ngừng bặt. Hình như tiếng ve là tiếng 400 tử sĩ đang tâm sự thì phải, họ đang ngừng lại để nghe tiếng gọi của người chỉ huy của mình. Nắng chan hòa. Gió ngằn ngặt. Gió chạy từ đông sang tây. Gió thổi từ phía biển ào qua 1015 va vào dẫy Ngọc Rinh Rua tràn qua Chư Mom ray sang ngã ba Đông Dương. Nắng và Gió Tây nguyên như ngưng đọng nơi này một sáng cuối mùa khô như một sáng 43 năm trước đồng đội tôi ngã xuống

5. Nhang rừng rực cháy trên đỉnh 1015
Từ đây, chúng tôi đã thấy rừng thông nhưng thông không thể trồng khắp các điểm cao được, nó chỉ ở những vạt đất đỏ mà thôi còn những sườn dốc đá vẫn là cỏ lau khô sác. Tôi đang cố hình dung ra đâu là M11, M12, đâu là D1, D2 , Tôi đang cố hình dung ra 12,7 li bố trí thế nào mà hôm ấy đại đội 2 D16 của Khuất Đình Nuôi trong vòng 15 phút bắn rơi 5 máy bay địch và cả trận đánh này riêng đại đội anh đã hạ 9 máy bay các loại. Tôi dừng xe trên sườn đất đỏ để xác định nơi đại đội 7 bị bom cháy lúc 2 giờ chiều 13/4/72 làm hi sinh 24 chiến sĩ và hơn 10 người bị thương. Tôi nhớ anh Kiều Thế người Thái Nguyên bị cháy hôm ấy mà không chết. Sau này anh Thế trở về làm trưởng phòng ở Sở Thủy Lợi Thái nguyên vẫn mang những vết cháy sần sùi trên mặt trên tay.
Tôi đứng giữa các mỏm M11, M12. Nhìn những yên ngựa hẹp vanh vanh mà bộ đội ta vượt qua để tấn công hỗ trợ cho nhau. Những yên ngưa ấy hôm nay toàn là lau lách vàng như rơm. Máu các đồng đội tôi đổ xuống chảy rẽ sang hai sườn đồi dốc đứng. Gió ngàn ngạt thổi, cỏ lau phất phơ, trong gió có mùi nhựa thông mùi hoa cà phê từ phía DakTo ngạt ngào. Hít căng lồng ngực ngọn gió cao nguyên tôi nhìn dòng Pô ko ở phía mặt trời đang chói chang. Bốn mươi ba năm trước đồng đội tôi có kịp thấy mặt trời như hôm nay không?

Chúng tôi thắp nén nhang trên miếu thờ hơn ba mươi công nhân trồng rừng trên Charlie đã hi sinh vì bom mìn còn sót lại lúc 10 giờ sáng. Nắng vàng như nghệ và gió như ngựa hoang quất đuôi vun vút. Ngước lên đỉnh cao nhất của 1015 một màu sám đen những đá và cỏ khô. Đỉnh cao ấy không có xe nào leo lên được đến chèo bộ cũng khó. Anh Hinh hi sinh trên mỏm ấy. Đại đội 7 bị bom hết nửa quân số vẫn người này ngã người kia bám dốc leo lên tấn công.
11 giờ trưa lên đến đỉnh núi Charlie tôi lập bập thắp nhang cho đồng đội. Tôi quay nhìn về phia tây, ngọn Chư Mom ray xanh mờ đẹp thế. Dãy Ngọc Rinh Rua thơ mộng thế. Dưới kia những đụn khói đốt nương le lói, làng Rờ kơi có con suối bé như sợi chỉ yên bình. Tôi gọi tên anh Hiệp D trưởng anh The chính trị viên, anh Hinh đại đội trưởng đại đội 7 anh Hải đại đội trưởng quân y 24…gọi những cái tên trẻ già bất tử. Tôi chợt nhớ lời trung đoàn trưởng Khuất Duy Tiến …”Nghe báo cáo Hiệp, The và toàn bộ trinh sát thông tin D8 hi sinh chúng tôi bàng hoàng …ngày đầu tiên 12/4/72 ta dã diệt được một phần sinh lực địch và chiếm được một số điểm cao nhưng rõ ràng pháo ta bắn chưa đủ mạnh. Đêm ấy ông Kim Tuấn lệnh cho bộ đội dãn ra để pháo bắn tiếp. Họp xong quyết định xong thì trời gần sáng tôi xin hoãn lại vì sợ bộ ta thương vong tổn thất . Một ngày 13/4 bộ đội ta nằm lưng chừng dốc chịu bao nhiêu là ác liệt nhưng thà thế còn đỡ thương vong hơn dãn ra lúc này. Một ngày lửa cháy trong ruột tôi…Ngày 14/4 ta bắn pháo dữ dội và chiều hôm ấy các mũi xung phong lẫm liệt. Cả D11 dù chỉ thoát ba bốn chục tên.
Bó nhang cháy rừng rực giữa trưa, tôi đứng ngước lên đỉnh điểm cao mang cái tên 1015 mà khấn các anh. Tôi quay mặt về hướng tây mà lạy các anh, tôi vái tứ phía các D1, D2, D3 tôi không biết còn những ai đã hòa tan vào đất đỏ Charlie này, tôi không thể biết màu đỏ đất Bazan này có bao nhiêu dòng máu của những trai trẻ từng ngấm vào thớ đất để mùa khô mùa mưa vắt thành nhựa thông thành ngô thành cà phê hôm nay hương thơm ngan ngát không gian.
Nơi đây, trung đoàn tôi đã xóa sổ một tiểu đoàn dù mang  mệnh danh Thiên thần mũ đỏ. Hơn 600 xác lính dù phải bỏ lại không thể mang về. Cánh cửa tây PO CO mở toang để 14 ngày sau chiến dịch ĐAK TO- TÂN CẢNH tiêu diệt sư đoàn 22 VNCH bắt đầu.
Nơi đây hôm nay có một người lính đã già đứng run run trong nắng gió 1015 gọi tên đồng đội. Nơi đây có một bài hát ra đời mang tên MỘT VÙNG ĐỒNG ĐỘI. hào hùng mà da diết thương nhớ.
1015- Một vùng cỏ cây và đất đỏ - một vùng đồng đội không trở về, một vùng tâm linh mà những người lính trung đoàn 64 anh hùng còn mắc nợ. Mắc nợ một tấm bia tưởng niệm trên đỉnh núi. Tôi nghe trong rừng rực bó nhang cháy trưa nay nhắc thế.

                                                   Kon Tum đêm 24/3/2015- Hà Nội 2/4/2015 - Nguyễn Trọng Luân






    

GẶP MẶT CÁC TƯỚNG LĨNH MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN ( B3 ) - QUÂN ĐOÀN 3

GẶP MẶT CÁC TƯỚNG LĨNH MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN ( B3 ) - QUÂN ĐOÀN 3

Nhân kỷ niệm 54 năm ngày thành lập Mặt trận Tây Nguyên ( B3 ) - Quân đoàn 3, sáng nay 18/3/2018 , tại Học Viện Quốc Phòng , Ban liên lạc Bạn chiến đấu Mặt trận Tây Nguyên ( B3 ) - Quân đoàn 3 đã tổ chức gặp mặt các thế hệ Tướng lĩnh và đại diện một số doanh nhân tiêu biểu của Quân đoàn. Nguyên các Thủ trưởng Mặt trận Tây Nguyên , Quân đoàn 3 và 65 tướng lĩnh cùng 20 doanh nhân tiêu biểu của Quân đoàn đã về dự buổi gặp mặt . Về dự buổi gặp mặt còn có Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa - Phó chủ nhiệm Tổng Cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam , Trung tướng Phạm Hồng Hương - Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam .
Là một Quân đoàn ra đời muộn của Quân đội nhân dân Việt Nam và ra đời giữa lúc Chiến dịch Tây Nguyên đang diễn ra rất quyết liệt . Quân đoàn đã kế thừa những truyền thống tốt đẹp của lực lượng vũ trang Tây Nguyên là luôn khắc phục mọi khó khăn , vượt qua mọi gian khổ , chiến đấu kiên cường , dũng cảm , lập công xuất sắc . Chiến dịch Tây Nguyên thành công vang dội , tạo nên bước ngoặt mới của cuộc chiến tranh giải phóng Đất nước gắn liền với tên tuổi của Quân đoàn . Chiến dịch Hồ Chí Minh , Quân đoàn cũng hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc , đánh chiếm 2 trong 5 mục tiêu quan trọng của Chiến dịch là Bộ Tổng tham mưu và sân bay Tân Sơn Nhất . Trong giai đoạn giúp bạn làm nhiệm vụ Quốc tế ở Căm Phu Chia , Quân đoàn là mũi tấn công chủ yếu trên hướng Tây Bắc CPC , đánh bại nhiếu Sư đoàn quân Pôn Pốt - Iêng Xa Ri , giải phóng giúp bạn 5 tỉnh , gồm Kông Pông Chàm , Kông Pông Thom , Xiêm Riệp , Bát Tam Băng , Fu Sát và cùng Quân đoàn 4 đánh chiếm thủ đô Nông Pênh . Quân đoàn vinh dự được nhà nước tặng danh hiệu vẻ vang ĐƠN VỊ ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

Dưới đây là một số hình ảnh buổi gặp mặt .
Ảnh 1: Trung tướng Nguyễn Vĩnh Phú - Trưởng BLL Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 đọc báo cáo
Ảnh 2: Trung tướng Khuất Duy Tiến phát biểu tại buổi gặp mặt
Ảnh 3: Trung tướng Mai Hồng Bỉnh
Ảnh 4: Doanh Nhân Ngô Duy Chuyên


















    

CUỘC TRUY KÍCH THẦN TỐC TRÊN ĐƯỜNG SỐ 7

Trong lịch sử cuộc kháng chiến của Dân tộc ta chưa có một cuộc rút chạy nào của địch lại thảm bại như cuộc rút chạy của Quân đoàn 2 địch trên đường 7 ( tháng 3/1975 ) . Cả một Quân đoàn với hàng vạn sỹ quan và binh lính cùng vài ngàn xe các loại , cùng rất nhiều phương tiện chiến tranh chỉ trong vòng một tuần đã gần như bị xoá sổ . Chiến thắng này đã góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của cả nước , giải phóng hoàn toàn Miền Nam , thống nhất đất nước . Trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của Trần Tiến Hoạt - Sư đoàn 320 về trận truy kích tiêu diệt Quân đoàn 2 địch tháo chạy trên đường 7 - tháng 3/1975.

CUỘC TRUY KÍCH THẦN TỐC TRÊN ĐƯỜNG SỐ 7

                                       
Sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ và đặc biệt sau khi Sư đoàn 23 , lực lượng mạnh nhất của địch ở Quân khu 2 thất bại thảm hại sau khi tổ chức tái chiếm Buôn Ma Thuột . Ngày 14/3/1975 , Tổng thống Việt Nam cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu không còn cách nào khác phải ra lệnh rút quân khỏi Cao Nguyên . Để đảm bảo bí mật , bất ngờ và an toàn cho cuộc rút chạy ! Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 địch quyết định chọn đường số 7 , một con đường đã hư hỏng nặng và bỏ hoang từ lâu để rút chạy . Để đảm bảo cho cuộc rút lui an toàn, hữu hiệu, Bộ tư lệnh quân đoàn 2 địch đã điều liên đoàn 7 biệt động quân đang trấn giữ Tây Bắc thị xã Kon Tum "ưu tiên" cho rút trước về án ngữ “đoạn đường nguy hiểm nhất” từ Đông thị xã Cheo Reo đến đèo Tu Na. Hai liên đoàn biệt động quân số 6 và 23 đang chốt giữ Thanh An, Thanh Bình (đường 19 Tây) tăng cường cho lữ đoàn 2 kỵ binh bảo vệ tuyến đường từ ngã ba Mỹ Thạch đến quận lỵ Sơn Hòa, yểm trợ cho công binh mở đường bắc cầu qua sông Ba. Lực lượng địa phương quân của hai tỉnh Phú Bốn, Phú Yên cũng được huy động tối đa vào công việc “phối trí bảo vệ lộ trình 7”.
Cuộc rút lui chiến lược lớn nhất của quân ngụy Sài Gòn bắt đầu. Suốt đêm 14 rạng ngày 15-3, sư đoàn 6 không quân liên tục chở quân và gia đinh (gồm cả người và đồ đạc) về Nha Trang. Trên đường phố thị xã Kon Tum và Plei Ku xe nhà binh chạy hỗn loạn. Hàng loạt đồn bốt , công sở bỗng bốc cháy ngùn ngụt sáng rực cả một vùng. Dân chúng đã biết cuộc “bỏ của chạy lấy người” của quân đoàn 2, cũng vội vã hè nhau chạy theo. Đường 14 Nam thị xã Pleo Ku đến ngã ba Mỹ Thạch (đầu đoạn đường 7) bỗng chật ních người và xe cộ các loại.
Trong những giờ phút đầy biến động đó, những tin tức khác thường ở hai thị xã Kon Tum và Plei Ku đều được đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh tại Mặt trận Tây Nguyên và Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên theo dõi chặt chẽ. Tối 15-3, đại diện Bộ Tổng Tư lệnh gọi điện thông báo cho Bộ Tư lệnh chiến dịch biết có hiện tượng địch rút bỏ Kon Tum , Plei Ku và chỉ thị khẩn trương chuẩn bị mọi mặt ngăn chặn và truy kích cuộc rút chạy này . 20h ngày 16/3 , Bộ Tổng tư lệnh thông báo chính thức cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên : Địch đã rút chạy theo đường 7 , tổ chức truy kích ngay !
Căn cứ thực tế tình hình phát triển chiến dịch, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Sư đoàn 320 đứng chân ở khu vực Thuần Mẫn được tăng cường một tiểu đoàn thiết giáp, một cụm pháo binh chiến dịch nhanh chóng chặn địch ở Đông Nam Cheo Reo, tiêu diệt quân đoàn 2 rút chạy . 21 giờ ngày 16-3, cả Sư đoàn 320 lao vào cuộc truy kích thần tốc kiên quyết không cho địch chạy thoát.
Cho đến bây giờ, mỗi khi nhắc lại cuộc chiến đấu hào hùng đó, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 vẫn chưa lý giải được cặn kẽ tại sao lúc đó với một đội hình rất phân tán: Trung đoàn 48 (thiếu Tiểu đoàn 3) đang truy quét địch ở Cẩm Ga - Thuần Mẫn; Trung đoàn 64 (thiếu Tiểu đoàn 9 đang chốt cắt đường 7B ở Tây thị xã Cheo Reo 10 km) đang đánh địch ở Đạt Lý, Phước An; Trung đoàn 9 đánh địch ở Kênh Săn (Phú Nhơn), hầu hết cách thị xã Cheo Reo từ 50 đến 130km mà họ lại có thế cơ động (bộ phận gần: 1 đêm, bộ phận xa: 1 ngày 1 đêm) đến địa điểm chiến đấu (đúng thời gian quy định, lập lá chắn thép khóa chặt bọn địch trong thung lũng Cheo Reo để tiêu diệt. Chỉ biết rằng, sau khi nhận lệnh truy kích địch trên đường 7, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 không còn thời gian để ngồi mà tính toán nữa. Tất cả phải hành động, hành dộng thật khẩn trương, kiên quyết thì mới có thể giành được thắng lợi. Nếu để địch chạy thoát về đồng bằng là có tội với Tổ quốc, với nhân dân, với bao chiến sĩ đã đổ máu hy sinh trên chiến trường này.
Cuộc truy kích thần tốc trước hết diễn ra ở Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 64) – những người có công đầu trong việc chốt chặn tập đoàn quân địch rút chạy. 19 giờ tối 16-3, sau khi nhận được lệnh của Sư đoàn trương Kim Tuấn: “Bằng bất cứ giá nào sáng ngày 17-3, tiểu đoàn phải có mặt ở chân đèo Tu Na để chặn địch”, cả tiểu đoàn lập tức lao vào cuộc chạy đua với quân địch. Mặc đêm tối, đường xa, dốc đá tai mèo dựng đứng, bộ đội vẫn kiên trì - động viên nhau khẩn trương vận động. Nhiều đoạn rừng rậm, khe sâu bộ đội phải dùng nứa khô, dép cao su làm đuốc soi dường để vượt qua. Địch rút chạy bằng sức 1 mạnh cơ giới. Ta đuổi địch bằng “đôi chân vạn dặm”. Tới trưa ngày 17-3, Đại đội 11 (Tiểu đoàn 9) đã đến vị trí quy định chuẩn bị nổ phát súng đầu tiên trong cuộc truy kích dịch của Sư đoàn.
Cũng trong đêm ngày 16 và ngày 17-3, cơ quan hậu cần chiến dịch và Sư đoàn 320 đã huy động hơn 100 xe ô tô cấp tốc chở Trung đoàn 64 và một số đơn vị trực thuộc đang làm nhiệm vụ ở hướng Đạt Lý, Buôn Hồ về ngã ba Thuần Mẫn . Thiếu ô tô, bộ đội chạy bộ. Xe chạy hết tốc lực. Đổ quân xuống nơi quy định, xe lập tức quay lại đón bộ phận khác đang chạy bộ. Trên hướng Bắc, Trung đoàn 9 sau khi chiếm quận lỵ Phú Nhơn đã nhanh chóng hình thành mũi tiên công phía Bắc xuống thị xã Cheo Reo. Trung đoàn 48 đã chủ động, tích cực đưa Tiểu đoàn 2 theo đường 7B áp sát phía Tây Cheo Reo...
Sáng ngày 17-3, một số xe địch chạy lọt về Củng Sơn nhưng đại bộ phận tập đoàn rút chạy của quân đoàn 2 vẫn chưa chạy thoát. Trên đường 7 hàng nghìn xe quân sự của địch nối đuôi nhau ùn ùn đổ về thị xã Cheo Reo. Chúng chạy hàng tư, hàng năm lấn ra cả hai bên bìa rừng. Trên trời máy hay hộ tống trút bom, bắn rốc két, ngăn chặn phía sau, dọn đường phía trước và hai bên.
Đoàn xe địch qua khỏi thị xã Cheo Reo 4km gặp trận địa phục kích đầu tiên của Tiếu đoàn 9 (Trung đoàn 64), cả đoàn xe nhào ra hai bên đường, chạy vào rừng. Đến chiều ngày 17-3, “cánh cửa thép” phía Đông Nam thung lũng Cheo Reo đã được khóa chặt. Lực lượng cơ bản của tập đoàn rút chạy đã bị nhốt chặt như cá nằm trong giỏ.
“Thị xã Cheo Reo, người và xe các loại chật ních không có chỗ chen chân. Nạn cướp giật hoành hành. Không khí ngột ngạt đến nghẹt thở. Mờ sáng ngày 18, địch củng cố lại đội hình, dùng hai thiết đoàn xe tăng mở đường chạy về Củng Sơn. Tiểu đoàn 9 ngoan cường, nổ súng dữ dội vào đoàn xe địch. Xe tăng, xe bọc thép liều chết mở hết tốc độ lao qua cầu Ea Nu. cầu sập. Xe và lính rơi xuống sông. Đường tắc nghẽn, địch bỏ xe tản vào rừng, lội sang sông Ba. Lúc này lực lượng lớn của Sư đoàn 320 đuổi kịp đánh thốc tới. Hàng trăm xe quân sự địch cháy nằm ngổn ngang hai bên đường và bãi sông”. Trong trận đánh táo bạo, quyết liệt này, Tiểu đội trưởng Nguyễn Vi Hợi, Đại đội 9 (Trung đoàn 64) nổi lên như một ngôi sao sáng chói. Qua hai ngày chiến đấu không biết mệt mỏi, một mình anh đã bắn cháy 12 xe bọc thép, diệt 20 tên, cùng đồng đội bắt sống 120 tên khác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Cùng trong ngày 18-3, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 48 đã cắt đứt đoạn đường từ Phú Thiện đi Cheo Reo, vây diệt 1 tiểu đoàn bảo an ở Cầu Cháy.
Thấy quân lính bị đánh quyết liệt cả bốn mặt, bọn chỉ huy địch đã cho 4 phi đội A37 và T28 oanh tạc bảo vệ đội hình. Nhưng không quân ngụy đã cuống cuồng ném bom vào liên đoàn 7 biệt động quân, làm chết và bị thương gần một tiểu đoàn, phá hủy một số xe quấn sự.
Cuộc truy kích thần tốc quân đoàn 2 ngụy của các Chiến sĩ Sư đoàn 320 mới bước sang ngày thứ hai đã thu được thắng lợi giòn giã và làm cho bọn địch hết sức nguyố. Đến nỗi tên chuẩn tướng Pham Duy Tất chỉ huy cuộc hành quân rút chạy đã phải kêu lên: “Tổn thất quá nặng nề gần như tan rã”|.
8 giờ ngày 18-3, để tạo thế tiêu diệt toàn hộ quân địch rút chạy, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320 nhanh chóng đánh chiếm thị xã Cheo Reo làm bàn đạp.
Chấp hành triệt để chỉ thị trên. 11 giờ ngày 18-3, Sư đoàn cho ba trận địa pháo cơ giới nhất loạt bắn phá các mục tiêu quan trọng trong thị xã. 16 giờ, từ hai hướng, Trung đoàn 48 và một bộ phận của Trung đoàn 64 mở các đợt tiến công vào sân bay, tòa hành chính, khu cố vấn Mỹ, tiểu khu Phú Bổn, trại lính Ngô Quyền, đài phát thanh... Khoảng 24 giờ, thị xà Cheo Reo, tỉnh lỵ Phú Bổn hoàn toàn giải phóng. Ta tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và hầu hết phương tiện chiến tranh của quân đoàn 2 và một số đơn vị địch.
Trong cơn nguy khốn, Phạm Văn Phú phải ra lệnh cho lính bỏ vũ khí, khí tài quân dụng nặng đi vòng rừng chạy khỏi Cheo Reo. Bọn lính còn lại phần lớn ra hàng, phần còn lại lột hết quần áo lính, mặc dân sự và bắt dân chạy trốn theo để làm bia đỡ đạn cho chúng. Nhưng một lần nữa với truyền thông “giúp dân đánh giặc” với sự thông minh, khôn khéo, bộ đội Sư đoàn 320 đã chia địch ra vây bắt, thanh lọc, bảo vệ an toàn cho nhân dân, đồng thời tuyên truyền kêu gọi nhân dân không chạy theo địch nhanh chóng trở về quê quán làm ăn.
Phát huy thắng lợi đã giành được, chỉ huy Sư đoàn 320 cho Trung đoàn 64 được tăng cường 1 tiểu đoàn thiết giáp truy đuổi lực lượng còn lại trên đoạn đương Phú Túc, Củng Sơn.
Với khí thế chiến thắng và quyết tâm không để địch chạy thoát về đồng bằng, ngày 20-3, các chiến sĩ Trung đoàn 64 và các đơn vị tăng cường đã đuổi kịp lực lượng địch chạy trước và tổ chức bao vây ngay. 17 giờ ngày 21-3, ta hoàn toàn làm chủ quận lỵ Phú Túc. 10 giờ ngày 22-3, ta làm chủ Ga Pui. Ngày 23-3, Trung đoàn 64 tiến sát quận lỵ Củng Sơn điểm co cụm cuối cùng của 6.000 tàn binh có 40 xe tăng, xe thiết giáp che chở. Ngày 24-3, được 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Yên phối hợp, Trung đoàn 64 và lực lượng thiết giáp tăng cường đã mở đợt tiến công quyết liệt, liên tục chia cắt tiêu diệt từng mảng quân địch. Đến 16 giờ, trước sức tiến công dũng mãnh của ta, đội quân ô hợp không chịu nổi phá chạy tán loạn. Đến 18 giờ cùng ngày, quận lỵ Củng Sơn hoàn toàn được giải phóng.
Thế là, sau một tuần truy kích thần tổc (17 - 24.3), Sư đoàn 320 và các lực lượng tăng cường của trên đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến đấu của Bộ Tư lệnh chiến dịch, vượt qua mọi khó khăn gian khổ về không gian, thời gian, tiêu diệt gọn tập đoàn quân của quân đoàn 2 rút chạy, bao gồm 4 liên đoàn biệt động quân (6, 7, 23, 25), trung đoàn xe thiết giáp (3, 19, 21), đại bộ phận Sư đoàn 6 không quân và 1 tiểu đoàn quân cộng hòa, bắt gần 1 vạn tên, thu và phá hủy 1.400 xe các loại (có 90 xe tăng, 34 xe M113), giải phóng hàng chục vạn dân.
Thắng lợi của cuộc truy kích thần tốc trên đường 7 không chỉ nói lên sự trưởng thành vượt bậc về tinh thần đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể; ý chí kiên cường, táo bạo, nắm bắt thời cơ nhạy bén và sử dụng sức mạnh thời cơ tới mức độ hoàn hảo, mà còn chứng tỏ khả năng biết vận dụng sáng tạo nghệ thuật tác chiến chiến dịch, nổi bật nhất là công tác trinh sát bám địch, công tác chỉ huy hiệp đồng tác chiến trong vận động truy kích và phục kích chốt chặn quân địch của toàn thể cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320 nói riêng và Binh đoàn Tây Nguyên nói chung.
Thắng lợi to lớn toàn diện trên đường 7 đã đánh bại hoàn toàn âm mưu về đồng bằng co cụm để giữ vùng duyên hải đông dân và trù phú của Mỹ - ngụy. Cùng với chiến thắng Buôn Ma Thuột, Phước An, chiến thắng Đường 7 - Cheo Reo trong Chiến dịch Tây Nguyên đã góp phần mở ra thời cơ hết sức thuận lợi để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta bước vào cuộc Tổng tiến công chiến lược mở Chiến dịch Trị Thiên - Huế, Chiến dịch Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phỏng hoàn toàn miền Nam thông nhất Tố quốc.

                                                                                            TRẦN TIẾN HOẠT

    

NHỮNG GIÂY PHÚT ĐẦU TIÊN VÀO TIẾP QUẢN THỊ XÃ PLAY CU THÁNG 3/1975 .


Sau thất bại ở Buôn Ma Thuột , đặc biệt sau trận thảm bại của Sư đoàn 23 địch đến giải cứu Buôn Ma Thuột . Tổng thống Việt Nam cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh rút toàn bộ lực lượng còn lại khỏi Cao Nguyên . Thế là chỉ bằng một trận Buôn Ma Thuột ta không tốn một viên đạn nào cũng giải phóng được Kon Tum và Play Cu . Trang Lính Tây Nguyên xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của bạn Bùi Tiến về ngày đầu tiếp quản thị xã Play Cu .

NHỮNG GIÂY PHÚT ĐẦU TIÊN VÀO TIẾP QUẢN THỊ XÃ PLAY CU THÁNG 3/1975 .
                                                                                                      Bùi Tiến

 ... Sau khi dùng trực thăng đổ quân xuống thị trấn Phước An hòng tái chiếm lại Ban Mê Thuột thất bại  ,tình hình chiến sự thay đổi một cách chóng mặt , địch  biết không thể giữ được Tây nguyên nên đã quyết định bỏ TN , đang rút chạy về phía biển theo đường 7.
   Việc phát hiện ra hiện tượng quân địch rút khỏi Tây nguyên cũng rất tình cờ  :ở sở chỉ huy chiến dịch luôn luôn có một tổ điện báo thuộc thông tấn xã VN đi theo phục vụ ,tổ gồm có 3 chiến sĩ hàng ngày thu tin tức bằng tín hiệu Moocs ,hôm ấy các anh  thu được tin của một hãng thông tấn ngước ngoài đưa :” trong thành phố Plâyku có nhiều khói trắng bốc lên ,nghi phía VNCH đang triệt thoái khỏi thành phố “,tin được đưa ngay lên chỉ huy ,các thủ trưởng cho kiểm tra ,đơn vị kiểm tra điện về là địch đã rút khỏi Plâyku  theo đường 7,mọi người ở chỉ huy sở rất bất ngờ ,có một người sĩ quan nói to ;
   - Plâyku giải phóng rồi !
 Lại một người nữa nói :
   -Ban Mê Thuột chứ !
  lại một người nói:
    - cả BanMe Thuột và Plâyku đều giải phóng rồi !
   Mọi  người đứng hết cả dậy ôm nhau sung sướng .hôm ấy là  ngày 17/3 ,tình hình rất khẩn chương , ngay sau khi được tin địch đã rút chạy khỏi Plây ku, sở chỉ huy chiến dịch lệnh cho sư trưởng sư 320 Kim Tuấn phải bằng mọi giá chặn địch trên đường 7, “Chậm trễ lúc này là có tội với lịch sử”, đồng thời  tổ chức một đoàn đi kiểm tra tình hình tại Plâyku và đôn đốc  việc chặn địch . Cứ thẳng đường 14 đoàn xe chạy về phía bắc hướng thành phố Plây ku .Ra khỏi thị xã BMT một đoạn, chúng tôi gặp một đoàn xe vận tải của 470 ,có khoảng 50chiếc toàn xe không ,chạy cùng chiều ,đây là đoàn xe đang phục vụ các đơn vị đánh BMT,nay được điều động lên chở quân sư 320 chuy kích địch . một tình huống bất gờ  một chiếc xe tải chạy sát va vào xe  của cụ Phí triệu Ham đại tá phó chính ủy mặt trận , làm xe bật sang một bên , may mà ko bị đổ .lúc đó mọi người ngồi xe đi trước đã cho xe chặn chiếc xe tải lại .Tất cả doàn xe của mặt trận và đoàn vận tải đều đứng lại .Mấy anh vệ binh kéo người lái xe tải xuống ,lúc đó thấy người lái xe tải mặt tái mét ,chắc lúc đó mới biết chỉ chút nữa đã gây tai lạn cho một người chỉ huy quân đội cấp cao ,anh ta xin nỗi và mấy anh vệ binh cũng chỉ giữ một đoạn rồi thả xuống .
  Xe tiệp tục chạy vào thành phố Plâyku,  đường phố vắng tanh ,lác đác có mấy chiến sĩ đứng gác ở ngã tư,đây là các chiến sĩ của trung đoàn 95A là đơn vị gần thành phố nhất ,được một người là trung sĩ quân y phía VNCH ,cũng là cơ sở của ta dẫn đường vào thành phố ,và  cũng mới vào thành phố trước chúng tôi mấy tiếng .chỉ huy trung đoàn báo cáo là đã cho đơn vị chiếm lĩnh tất cả các vị trí của quân khu và quân đoàn 2 ,các cơ quan dân sự ,các ngã 3 ,ngã tư . nhưng do địa bàn rộng và có nhiều vị trí thiết yếu nên mỗi vị trí chỉ có vài chiến sĩ . Tất cả các  đơn vị đều không chuẩn bị bản đồ các mục tiêu trong  thành phố  . Cả thành phố gần như các nhà dân đều đóng cửa im ỉm ,đa phần trong hoảng loạn đã chạy theo quân ngụy khi rút chạy ,còn những người dân không chạy theo quân đội VNCH cũng chưa dám ra đường ,chưa thấy có cờ ,khẩu hiệu gì . Thành phố Plâyku  có lẽ là thành phố cũng lâu đời ,có những dẫy phố ,hai bên có hàng cây thông già cổ thụ xà thấp xuống gần mặt đường  trông rất đẹp  .
  Đoàn xe chúng tôi  chạy  đến sân bay Cù Hanh ở đây cũng đã thấy có mấy chiến sĩ đứng gác ở cổng sân bay.Sân bay Cù Hanh là sân bay lớn của Tây Nguyên ,có bộ tư lệnh sư đoàn không quân số 2 VNCH,cảnh tượng đầu tiên mà tôi ấn tượng nhất là nhìn thấy cả một khoảng trời mêng mông , sân bay ở trên một vùng đất cao ,rất rộng . đã mấy năm ơ trong rừng âm u chỉ nhìn được một khoảng cách mấy mét ,hôm ấy mới được phóng tầm mắt theo đường băng mất hút về phía chân trời .Chúng tôi đi ra khu để máy bay ,thấy cảnh hàng dẫy máy bay xếp hàng thẳng tắp đang cháy ,nhưng không có ngọn lửa ,chỉ thấy khói .nhiều cái mới cháy khoang lái ,kính bị bung đi đâu mất .Hình như chủ yếu là loại A37 và T28 ,có lẽ cháy do đốt và bị đan pháo.Cơ sở vật chất quân sự ở đây quá mạnh .
  Đến chiều tối thì chúng tôi về đến chân núi Hàm rồng ,đây là căn cứ pháo binh lớn nhất của cả vùng ,trong ánh sáng mờ mờ nhập nhoạng ,tôi nhìn thấy cơ man nào là xe pháo của địch còn vất lại ,thật không thể tưởng tượng được ,những khẩu pháo vua chiến trường lại hiện đại đến thế ,nòng dài đến hơn chục mét , những cỗ xe tăng M48 hầu như còn nguyên vẹn  vứt lại quanh căn cứ .Có lẽ phải đến đây mới thấy được vũ khí Mỹ để lại cho quân ngụy nhiều như thế nào .  
   Thế là thành phố P lây ku được giải phóng .nơi đây có cả bộ tư lệnh quân khu2 ,quân đoàn 2 VNCH đóng ,có cả sư đoàn 2 không quân ,có cụm pháo binh trên đồi Hàm Rồng mạnh nhất Tây nguyên .Trước chiến dịch ,dù có lạc quan đến thế nào cũng không ai dám nghĩ đến chiếm được thành phố trong chiến dịch này .